Bootstrap

Nền Tảng Kinh Thánh về Công Việc

Book / Produced by TOW Project and Partners

LỜI MỞ ĐẦU

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

“Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.”

Kinh Thánh bắt đầu với câu mô tả về Đức Chúa Trời, Đấng làm việc từ thuở ban đầu. Ngài vẫn tiếp tục làm việc trong dòng lịch sử.[1] Ngài dựng nên con người để làm việc cho vinh quang của Ngài. Có người cho rằng Kinh Thánh là bộ sưu tập hình ảnh của những người làm việc, quyển sách của những người làm việc, về những người làm việc, cho những người làm việc.[2] Công việc được chính Chúa trao như một món quà, để vui hưởng sự đầy trọn của Đấng đã trao mạng lệnh chung cho con người từ buổi sáng tạo.[3] Như thế, công việc trở thành sứ mạng và tiếng gọi cho con người trong tương quan với Đấng Tạo hóa.

Một nhận xét tinh tế về thực trạng ngày nay là nhiều người Cơ Đốc đã tách rời công việc khỏi đời sống thuộc linh, xem công việc đơn thuần là phương tiện để kiếm sống. Đôi khi, công việc còn trở thành mục đích sống của nhiều người. Nếp sống Cơ Đốc đôi khi được nhận thấy có sự khác biệt rõ ràng giữa ngày Chúa nhật và thứ hai, hay trong khuôn viên nhà thờ và tại nơi công sở. Trên nền tảng Thánh Kinh, chúng ta sẽ nhận ra rằng Chúa trao ban công việc cho con người với mục đích cao cả nhiều hơn thế!

Nền Tảng Kinh Thánh về Công Việc là công trình của nhóm học giả Kinh Thánh và những người đang hầu việc Chúa nơi công sở để giải nghĩa và khám phá điều Chúa dạy trong toàn bộ Kinh Thánh dưới góc nhìn công việc trong tương quan với niềm tin. Mọi ngành nghề, lãnh vực từ kinh doanh, giáo dục, y tế, quản trị, kỹ thuật, lao độngtay chân…đều có thể đặt dưới sự soi dẫn của Thánh Kinh. Với Nền Tảng Kinh Thánh về Công Việc, Lời Chúa trở nên cụ thể và thực tế, người Cơ Đốc được kêu gọi để sống đúng với vai trò “muối và ánh sáng” trong thế gian, là chứng nhân của tình yêu và ân sủng trong nơi làm việc. Công việc trở thành phương tiện để dâng vinh quang về cho Chúa. Vì thế, làm việc là hành động thờ phượng.

Ước mong bộ sách là công cụ tốt để hỗ trợ người Cơ Đốc nơi công sở trong việc nghiên cứu và học Kinh Thánh, chia sẻ và khích lệ đức tin, thách thức nếp sống chứng nhân, trình bày về Đấng đã trao công việc cho con người với niềm hy vọng nơi Vương Quốc của Đấng đang hành động trong lịch sử, và lấp đầy khoảng cách giữa nhà thờ với công sở, đức tin và công việc.

Tải sách Nền Tảng Kinh Thánh về Công Việc - phần 1.

Cảm ơn sự góp phần biên dịch của Cựu Sinh Viên Việt Nam.

Nguyên tác: THEOLOGY OF WORK
Bản quyền thuộc về THEOLOGY OF WORK PROJECT
Phiên dịch và biên tập: NHÓM THÔNG CÔNG CSV
Trình bày: Vĩnh Phước

Các trích dẫn Kinh Thánh sử dụng trong sách là bản Truyền Thống Hiệu Đính © United Bible Societies 2010 - Phiên bản thứ nhì, 2011.

Bản quyền tiếng Việt © Nhóm Thông Công CSV, UBTTN - 2017

Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ. Mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phân phối dưới dạng in ấn hoặc văn bản điện tử, đặc biệt là phát tán dưới dạng internet mà không có sự cho phép bằng văn bản của Nhóm dịch là vi phạm pháp luật và làm tổn hại đến quyền lợi của Nhóm dịch và tác giả. Không ủng hộ, khuyến khích những hành vi vi phạm bản quyền. Chỉ mua bản in hợp pháp.

GIỚI THIỆU SÁCH MA-THI-Ơ

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Công việc là một phần quan trọng trong vương quốc Đức Chúa Trời. Trước đây Ma-thi-ơ là người thâu thuế, nhưng về sau ông trở nên môn đồ của Chúa Giê-xu; Ma-thi-ơ kể lại những việc làm cùng lời dạy của Chúa Giê-xu để giúp chúng ta biết cách sống và làm việc trong vương quốc mới của Đức Chúa Trời. Là những người tin Chúa Giê-xu, chúng ta đang sống trong hai thế giới: thế giới con người và vương quốc Đức Chúa Trời. Trong thế giới con người, công việc chúng ta làm bị chi phối bởi những quy tắc không lời có thể thích hợp với đường lối của Chúa nhưng cũng có thể không thích hợp. Nhưng đồng thời chúng ta cũng là những Cơ Đốc Nhân thuộc về vương quốc Đức Chúa Trời nên chúng ta tuân giữ những giá trị và quy tắc của Chúa. Bằng cách kể lại câu chuyện về Chúa Giê-xu, Mathi-ơ trình bày sự chỉ dẫn của Ngài giúp chúng ta định hướng giữa thế giới này bằng cách tập trung vào khái niệm “nước thiên đàng” để bày tỏ bản chất thật của thế giới. Ma-thi-ơ xem “nước thiên đàng” và “nước Đức Chúa Trời” là hai khái niệm tương đương có thể hoán đổi cho nhau (tham khảo Mat 19:23-24). Vương quốc Đức Chúa Trời “đã đến” trong thế giới, mặc dù chưa hoàn toàn trở thành hiện thực. Những người tin Chúa Giê-xu vẫn phải sống, làm việc như những “người tạm trú”[1] trong thế giới này trong lúc chờ đợi vương quốc Đức Chúa Trời được hoàn tất.

Chúa Giê-xu đã hướng dẫn chúng ta cách sống và làm việc như những “người tạm trú” trong thế giới này khi Ngài giảng dạy nhiều vấn đề có liên quan đến môi trường làm việc như: cách lãnh đạo và thẩm quyền lãnh đạo, tầm ảnh hưởng và quyền lực, kinh doanh cách chính trực và gian dối, thành thật và lừa đảo, cách đối xử với nhân viên, phương pháp giải quyết xung đột, sự giàu có và những nhu cầu sinh sống tối thiểu, những mối liên hệ tại nơi làm việc, đầu tư và tích trữ, nghỉ ngơi, cũng như vấn đề làm việc trong các tổ chức có chính sách và cách hoạt động trái ngược với nguyên tắc của Thánh Kinh.

NƯỚC THIÊN ĐÀNG ĐÃ ĐẾN GẦN (MA-THI-Ơ)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Khi khởi đầu chức vụ trên đất, Chúa Giê-xu tuyên bố rằng, “vương quốc thiên đàng đã đến gần” (Mat 4:17). Cụm từ “vương quốc thiên đàng” có lẽ khiến chúng ta nghĩ đến các tầng mây, có các thiên sứ đồng ca với những chiếc đàn hạc. Nhưng Đức Chúa Giê-xu đã nói rõ “nước thiên đàng” là chỉ về sự cai trị của Đức Chúa Trời trên đất. Nước thiên đàng “đã đến gần” nghĩa là sự cai trị của Đức Chúa Trời đã đến trong thế giới.

Mọi vương quốc đều quan tâm đến việc quản lý, kinh tế, nông nghiệp, sản xuất, tư pháp và quốc phòng. Đó cũng là những vấn đề mà chúng ta thường thấy trong các môi trường công sở. Cách sống trong vương quốc của Đức Chúa Trời được bày tỏ nơi môi trường công sở sẽ đem đến ảnh hưởng sâu đậm. Ma-thi-ơ kể lại những sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu đề cập trực tiếp đến cách sống của chúng ta tại nơi công sở. Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-xu đã dẫn các môn đồ của Ngài vào những giá trị, phẩm chất đạo đức và cách sống thực tế trong vương quốc mới của Ngài. Trong bài cầu nguyện chung, Chúa Giê-xu đã dạy họ phải cầu nguyện rằng, “Vương quốc Cha được đến, Ý Cha được nên, ở đất như ở trời!” (Mat 6:10). Sách Tin Lành Ma-thi-ơ đã kết thúc khi Chúa Giê-xu sai phái những người tin theo Chúa ra đi thi hành công tác khắp thế giới vì Ngài đã nhận “tất cả thẩm quyền trên trời dưới đất” và Ngài sẽ ở cùng họ trong mọi công việc họ làm trên đất (Mat 28:19-20). Ma-thi-ơ nói rõ vương quốc của Đức Chúa Trời vẫn chưa hoàn toàn trở thành hiện thực trên đất cho đến khi chúng ta trông thấy “Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống” (Mat 24:30). Trong khi chờ đợi cho đến ngày ấy, khi làm việc nơi công sở chúng ta cần bỏ lối sống cũ của mình, để bày tỏ lối sống mới của nước thiên đàng. Chúng ta cần sống bày tỏ cách cụ thể những giá trị của vương quốc Đức Chúa Trời ngay trong hiện tại.

LÀM VIỆC NHƯ NHỮNG CÔNG DÂN CỦA VƯƠNG QUỐC ĐỨC CHÚA TRỜI (MA-THI-Ơ 1-4)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà các nhà thần học gọi là “đã đến, nhưng chưa hoàn tất.” Nước thiên đàng đã được Chúa Giê-xu khai mở khi Ngài thi hành chức vụ trên đất, nhưng vương quốc ấy vẫn chưa được hoàn tất cho đến khi Đấng Christ trở lại như một vị vua. Trong hiện tại, mọi việc trong đời sống của chúng ta bao gồm: công việc, giải trí, sự thờ phượng, niềm vui cùng nỗi buồn, đều bị chi phối bởi thực tại chúng ta vẫn đang sống trong thế giới bị chi phối bởi những lối sống cũ, đã bị hư hoại vì tội lỗi (Sáng 3), đồng thời cũng được cai trị bởi Đấng Christ (chỉ phần nào, chưa trọn vẹn). Là những Cơ Đốc Nhân, chúng ta hoàn toàn đặt mình dưới thẩm quyền của Chúa Giê-xu, cách sống của chúng ta trong thế giới cần phản chiếu lối sống trong nước thiên đàng sắp đến. Điều này không phải để chúng ta khoe mình thánh thiện hơn những người khác, nhưng là chấp nhận thách thức để tăng trưởng theo đường lối của Chúa. Đức Chúa Trời kêu gọi dân sự của Ngài vào nhiều vai trò và nghề nghiệp khác nhau trên đất. Trong những vai trò và nghề nghiệp đó, chúng ta cần sống bày tỏ chân lý: sự cai trị của Chúa trên trời đã và đang đến trong thế giới.

Đồng thời chúng ta vẫn chưa thoát khỏi những điều xấu xa đã đến trong thế giới từ khi con người phạm tội: cái chết (I Cô 15:26), tội lỗi (Giăng 1:29) và Sa-tan (Khải 12:9). Dù chỉ tạm thời, nhưng chính Chúa Giê-xu cũng đã từng trải sự khốn khổ, kinh khiếp vì tội lỗi của con người, chúng ta cũng phải đối diện với điều đó. Khi làm việc, có thể chúng ta sẽ phải chịu khốn khổ vì bị bóc lột công sức, thất nghiệp dài hạn, hoặc thậm chí chết vì tai nạn lao động. Chúng ta có thể sẽ gặp những khó khăn nhỏ hơn như xung khắc với đồng nghiệp, môi trường làm việc không tốt, không được thăng tiến tương xứng với khả năng và hàng ngàn những khó khăn khác. Đôi lúc tại nơi làm việc, chúng ta phải nhận lãnh hậu quả tội lỗi của chính mình. Có lẽ nhiều người còn gặp khó khăn hơn chúng ta, nhưng qua sách Ma-thi-ơ mọi người đều học được cách sống đúng với địa vị là môn đồ của Đấng Christ giữa thế giới sa ngã này.

VÌ SAO CHÚNG TA NÊN NGHE THEO CHÚA GIÊ-XU? (MA-THI-Ơ 1-2)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Những chương đầu của sách Ma-thi-ơ kể lại một loạt những câu chuyện liên tiếp nhau bày tỏ Chúa Giê-xu đã đến trong thế giới này để khai mở vương quốc thiên đàng trên đất. Những chương này mô tả Chúa Giê-xu đúng theo những điều Kinh Thánh nói trước về Đấng Mê-si-a, giúp giải tỏ Ngài là ai cũng như cho biết việc Chúa Giê-xu bước vào thế giới là tâm điểm trong cách Đức Chúa Trời đối xử với con người. Sách Tin Lành Ma-thi-ơ mở đầu bằng gia phả của Chúa Giêxu cùng sự ra đời của Ngài tại Bết-lê-hem. Chúa Giê-xu là một người Do Thái, con cháu Áp-ra-ham, thuộc dòng dõi vua Đa-vít (Mat 1:1-2:23). Trong mỗi câu chuyện, Ma-thi-ơ luôn đối chiếu với những phần Kinh Thánh trong Cựu Ước để chứng tỏ việc Chúa Giê-xu ra đời đúng theo những lời tiên tri đã được công bố từ trước rất lâu.[1] Chúng ta cần lắng nghe Ngài bởi vì Chúa Giê-xu là Đấng được xức dầu, là Đấng Mê-si-a đã được hứa ban cho loài người, là Đức Chúa Trời nhập thể bước vào thế giới này trong thân xác con người (Giăng 1:14).

LỜI KÊU GỌI CỦA CHÚA GIÊ-XU (MA-THI-Ơ 3-4)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Chương hai và chương ba cách nhau gần ba mươi năm. Trước đám đông tại bờ sông Giô-đanh, tiếng phán từ trời công bố Chúa Giê-xu chính là Con của Đức Chúa Trời (Mat 3:17). Sau khi chịu phép Báp-têm, Chúa Giê-xu đã chiến thắng những cám dỗ của ma quỷ trong đồng vắng (Mat 4:1-11). Đây là hình ảnh hoàn toàn trái ngược lại với A-đam hay dân Y-sơ-ra-ên, là những người đã thất bại trước cám dỗ.[1] Tại đây, chúng ta được thấy nguồn gốc của vương quốc sẽ đến đã có từ xưa: là một “Y-sơ-ra-ên” theo như ý định nguyên thủy của Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng được thấy khía cạnh mang tính cách mạng của vương quốc Đức Chúa Trời là: chiến thắng vua của thế giới sa ngã này.

Theo ý định của Đức Chúa Trời dành cho thế giới này, công việc là một yếu tố quan trọng. Ngay sau khi Đức Chúa Trời dựng nên A-đam, Ngài đã giao việc cho ông làm (Sáng 2:15). Xuyên suốt cả Cựu Ước, chúng ta thấy dân sự của Đức Chúa Trời luôn được Ngài giao công tác (Xuất 20:9). Vì vậy không ngạc nhiên khi chính Chúa Giê-xu cũng là một người lao động (Mat 13:55). Việc Chúa Giê-xu chịu phép Báp-têm, trải qua những cám dỗ trong đồng vắng, cùng những trải nghiệm lao động của người thợ mộc đã chuẩn bị Chúa Giê-xu cho công tác mà Ngài sắp thực hiện (Mat 4:12). Tại đây, chúng ta bắt gặp phân đoạn đầu tiên đề cập trực tiếp về sự kêu gọi. Sau khi Chúa Giê-xu bắt đầu giảng về nước thiên đàng sắp đến, Ngài đã kêu gọi bốn người môn đồ đầu tiên đi theo Ngài (Mat 4:18-21). Về sau, có thêm những người khác cũng đáp lời kêu gọi của Chúa Giê-xu hình thành nên nhóm mười hai môn đồ. Họ được Chúa Giê-xu biệt riêng làm những học trò thân cận để họ sẽ phục vụ dân sự mới của Đức Chúa Trời như những người lãnh đạo trong tinh thần tôi tớ (tham khảo Mat 10:1-4; 19:28; Êph 2:19-21). Mỗi môn đồ đều phải từ bỏ nghề nghiệp, nguồn thu nhập cùng với những mối liên hệ trước đó của mình để đi với Chúa Giê-xu trong khắp miền Ga-li-lê.[2] Với các môn đồ cùng những người khác đi theo Ngài, Chúa Giê-xu chưa bao giờ hứa với họ bất cứ một sự đảm bảo nào. Khi Chúa Giê-xu kêu gọi Ma-thi-ơ là người thâu thuế, thì lời kêu gọi có đó hàm ý là Ma-thi-ơ sẽ phải từ bỏ công việc thu thuế hiện tại của mình (Mat 9:9).[3]

Lời kêu gọi của Chúa Giê-xu có đồng nghĩa với việc chúng ta phải từ bỏ công việc hiện tại để làm người giảng Tin Lành, mục sư hay nhà truyền giáo không? Phải chăng phân đoạn này dạy chúng ta trở nên môn đồ của Chúa đồng nghĩa với việc từ bỏ lưới và thuyền, cưa và đục, lương bổng và những phúc lợi của việc làm?

Câu trả lời là không. Phân đoạn này mô tả lại những điều đã xảy ra cho bốn người ở bờ biển Ga-li-lê ngày hôm đó. Nhưng đây không phải là quy định bắt buộc cho mọi người muốn đi theo Chúa Giê-xu Christ. Với mười hai môn đồ, đi theo Chúa Giê-xu đồng nghĩa với việc họ phải từ bỏ nghề nghiệp và gia đình để có thể cùng đi đây đó với thầy của mình. Trong quá khứ lẫn hiện tại vẫn có những nghề nghiệp đòi hỏi những sự hy sinh tương tự như phục vụ trong quân ngũ, giao thương hàng hải hay công việc trong ngành ngoại giao cùng với một số ngành nghề khác. Nhưng khi Chúa Giê-xu thi hành công tác trên đất chúng ta biết không phải bất cứ ai thật lòng tin đều bỏ công việc của mình để đi theo Ngài. Rất nhiều người tin Chúa Giê-xu vẫn tiếp tục ở lại nhà mình và làm những công việc thường ngày. Chúa Giê-xu thường nhờ đến những con người này để cung cấp các bữa ăn, chổ ở và nhu cầu tài chính cần có cho Ngài và các môn đồ (vd: người phung tên Si-môn trong Mác 14:3, hay Ma-ri, Ma-thê và La-xa-rơ trong Lu-ca 10:38, Giăng 12:1-2). Họ thường giúp Chúa Giê-xu tiếp cận với những cộng đồng tại nơi họ sinh sống. Đây là điều mà những người đi cùng với Chúa Giê-xu không thể làm được. Có một điểm thú vị, Xa-chê cũng là một người thâu thuế (Lu 19:1-10). Nhưng ông không được kêu gọi từ bỏ công việc hiện tại của mình là người thâu thuế mặc dù đời sống của Xa-chê đã được Chúa Giê-xu biến đổi.

Tuy nhiên, phân đoạn này cũng dẫn chúng ta vào một lẽ thật sâu nhiệm hơn là nghề nghiệp và việc đi theo Đấng Christ. Có thể chúng ta không cần từ bỏ công việc của mình, nhưng chúng ta phải từ bỏ sự trung thành với bản thân hay với con người hoặc hệ thống nào trái ngược với những mục đích của Đức Chúa Trời. Theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta là những người phục vụ cho vương quốc của Đức Chúa Trời đang làm việc trong trần gian. Chúng ta vẫn tiếp tục làm việc, vẫn thực hiện những công tác như trước. Nhưng chúng ta cũng được tuyển mộ để làm việc trong một vương quốc mới và phục vụ cho Người Chủ mới. Chúng ta vẫn làm việc, nhận lương; nhưng ở mức độ sâu hơn, chúng ta cũng phục vụ con người giống như Người Chủ của chúng ta đã phục vụ. Khi chúng ta phục vụ con người từ tấm lòng trung tín với Đấng Christ, thì điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta đang “phục vụ Đấng Christ là Chúa,” như sứ đồ Phao-lô đã nói trong Cô-lô-se 3:24.

Điều này mang tính triệt để hơn cảm nhận ban đầu của chúng ta và thách thức cách chúng ta làm việc. Nó có nghĩa là trong giới hạn có thể, chúng ta cần đeo đuổi thực hiện những điều giúp con người phát triển. Đó có thể là chúng ta dự phần thực hiện mạng lệnh Chúa truyền cho con người khi Ngài sáng tạo trời đất (quản trị trái đất) hoặc dự phần thực hiện mạng lệnh rao truyền sự cứu rỗi của Chúa cho nhân loại (rao giảng khắp đất). Tóm lại, chúng ta phải làm những việc để khích lệ, cổ vũ cho những ước mơ của người khác cũng như đem lại sự hàn gắn, giải hòa cho những đổ vỡ xung quanh chúng ta.

Có thể sự kêu gọi của Chúa Giê-xu không khiến chúng ta thay đổi việc làm, cách sinh sống nhưng chắc chắn sẽ thay đổi mục đích làm việc của chúng ta. Là những người đi theo Chúa Giê-xu, chúng ta làm việc trước nhất là để phục vụ Ngài. Điều này sẽ dẫn đến sự thay đổi cách chúng ta làm việc và đặc biệt là cách chúng ta đối xử với người khác. Vị Vua mới của chúng ta có những đặc điểm:
thương xót, công bình, chân thật và nhân từ. Ngược lại đặc điểm của thần cai trị thế gian này là: tàn phá, vô cảm, áp bức, giả dối, và thù hận. Các đặc tính của thần cai trị thế gian không còn thẩm quyền gì trong công việc của chúng ta nữa. Đây thật sự là một thách thức lớn; chúng ta không hy vọng có thể làm được bằng sức riêng của con người. Để sống và làm việc theo những tiêu chuẩn mới này, chúng ta cần đến năng lực hay ơn phước từ Đức Chúa Trời trong công việc của chúng
ta. Đây là điều được đề cập từ sách Tin Lành Ma-thi-ơ từ chương 5 đến chương 7.

NƯỚC THIÊN ĐÀNG ĐANG HÀNH ĐỘNG QUA CHÚNG TA (MA-THI-Ơ 5-7)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Từ chương 5 đến chương 7 sách Tin Lành Ma-thi-ơ cho chúng ta một bản văn khá đầy đủ về Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giê-xu. Dù một số người cho rằng phân đoạn dài hơn 100 câu này là gồm nhiều bài giảng riêng rẽ hay là sự kết hợp lại từ nhiều lần dạy dỗ khác nhau của Chúa Giê-xu, nhưng chúng ta vẫn có thể thấy tính liên kết và mạch ý tưởng qua các bài giảng này là: phương cách nước thiên đàng hành động bên trong chúng ta, qua công việc, gia đình và đời sống trong cộng đồng của chúng ta.

CÁC PHƯỚC LÀNH (MA-THI-Ơ 5:1-12)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Bài Giảng Trên Núi mở đầu với tám câu bắt đầu bằng từ “phước cho”[1] mô tả các phước lành. Chính từ này xác nhận hiện trạng hay tình cảnh đã được phước. Mỗi phước lành công bố một nhóm người thường bị xem là những người khốn khổ, trên thực tế lại là những người được phước. Họ không cần làm điều gì để được nhận lãnh ơn phước. Chúa Giê-xu chỉ đơn thuần công bố rằng họ là những người có phước. Vì vậy, các phước lành là sự công bố đầu tiên về ân sủng của Đức Chúa Trời. Đây không phải là những điều kiện phải có để được cứu hay một chỉ dẫn cho chúng ta cách bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời.

Những người được kể là có phước được trải nghiệm ân điển của Đức Chúa Trời bởi vì nước thiên đàng đã đến gần. Ví dụ phước lành thứ hai, “Phước cho những người than khóc” (Mat 5:4). Thông thường, không ai cho rằng than khóc là có phước. Than khóc là sầu khổ. Tuy nhiên, với việc nước thiên đàng đã gần đến, sự than khóc lại trở nên một ơn phước bởi vì người than khóc “sẽ được an ủi.” Hàm ý ở đây là chính Đức Chúa Trời sẽ an ủi người than khóc. Vì sầu khổ nên than khóc nhưng giờ đây than khóc trở nên một ơn phước vì dẫn vào mối liên hệ sâu đậm với Đức Chúa Trời.

Mặc dù mục đích chính của phân đoạn các phước lành là công bố những ơn phước sẽ được vương quốc Đức Chúa Trời đem đến; phần lớn các học giả cho rằng chúng cũng mô tả những đặc điểm của vương quốc ấy.[2] Khi bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời, chúng ta trông mong được trở nên giống như những người được kể là có phước. Chúng ta mong muốn chính mình trở nên nhu mì hơn, thêm lòng thương xót, khát khao sự công chính, đem lại nhiều sự hòa giải, v.v... Đặc điểm này khiến phân đoạn các phước lành còn có giá trị là các mệnh lệnh đạo đức. Về sau, khi Chúa Giê-xu phán, “hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta” (Mat 28:19), phân đoạn các phước lành mô tả những đặc điểm cần có của người trở thành môn đồ Chúa Giê-xu.

Các phước lành mô tả đặc điểm của vương quốc Đức Chúa Trời, nhưng đó không phải là những điều kiện cần có để được cứu. Chúa Giê-xu không hề nói rằng, “chỉ những người có lòng trong sạch mới được vào nước thiên đàng.” Đây thật sự là tin mừng vì các phước lành là những điều con người khó có thể làm được. Chúa Giê-xu đã dạy, “…hễ ai nhìn phụ nữ mà ham muốn thì trong lòng đã phạm tội tà dâm với người ấy rồi” (Mat 5:28) thì còn ai dám khẳng định mình “có lòng trong sạch” (Mat 5:8)? Nếu không bởi ân điển của Đức Chúa Trời, không ai trong chúng ta được kể là có phước. Mục đích của các phước lành không phải để lên án những người chưa đạt đến tiêu chuẩn nhưng là trình bày ơn phước cho những ai đồng ý bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời đã “đến gần.”

Một khía cạnh khác về ân điển trong các phước lành là chúng không phải chỉ dành cho những cá nhân nhưng được ban cho cả cộng đồng dân sự của Đức Chúa Trời. Khi bước đi theo Chúa Giê-xu, chúng ta trở nên những người được phước thuộc về cộng đồng vương quốc của Đức Chúa Trời, cho dù bản tính của chúng ta vẫn chưa hoàn toàn trở nên giống Chúa. Xét trên phương diện cá nhân, có thể chúng ta thất bại không thực hiện được một hay tất cả những đặc điểm mà phân
đoạn các phước lành đã mô tả. Tuy nhiên, chúng ta vẫn được phước nhờ vào đặc tính của cộng đồng mà chúng ta là thành viên. Địa vị (và ơn phước) là công dân vthuộc vương quốc của Đức Chúa Trời đã có giá trị ngay bây giờ. Cộng đồng thuộc vương quốc Đức Chúa Trời sẽ trọn vẹn khi Chúa Giê-xu trở lại, “Con Người lấy đại quyền, đại vinh ngự trên mây trời mà đến” (Mat 24:30).

Với những điểm tổng quan đã trình bày chúng ta sẵn sàng để khám phá đặc tính cụ thể của từng phước lành. Chúng ta sẽ tìm hiểu cách áp dụng những điều này vào việc làm của chúng ta. Dù không thể phân tích chi tiết từng phước lành, nhưng chúng tôi hy vọng có thể trình bày nền tảng căn bản để nhận lãnh các ơn phước cũng như cách sống bày tỏ những ơn phước ấy trong công việc hằng ngày.[3]

“Phước cho những người nghèo khó tâm linh, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ” (Ma-thi-ơ 5:3)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Người “nghèo khó tâm linh” là người thừa nhận sự hư hoại tâm linh và đặt mình lệ thuộc nơi ân điển của Đức Chúa Trời [1] giống như người thâu thuế trong đền thờ đấm ngực và cầu nguyện, “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót con, vì con là một tội nhân” (Lu 18:9-14). Đây là lời xưng nhận từ tận đáy lòng mình là một tội nhân và không có điều gì tốt có thể khiến Đức Chúa Trời hài lòng. Đây là sự đối lập với sự kiêu ngạo. Cốt lõi của điều này là chúng ta thừa nhận con người cần
đến Đức Chúa Trời cách khẩn thiết. Chúa Giê-xu công bố người được phước là người nhận biết nhu cầu của chính mình cần được đáp ứng bởi ân điển của Đức Chúa Trời.

Mở đầu Bài Giảng Trên Núi chúng ta được biết chính mình không có đủ năng lực thuộc linh để áp dụng những sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu trong đời sống. Chúng ta không thể làm trọn sự kêu gọi của Đức Chúa Trời bằng năng lực bản thân. Ai nhận thức sự hư hoại thuộc linh của mình là người có phước, vì chính nhận thức đó sẽ đem họ quay lại với Đức Chúa Trời. Nếu không có Chúa, không
ai có thể hoàn thành mục đích mà Chúa đã dựng nên họ và giao phó để thực hiện. Phần còn lại của Bài Giảng Trên Núi nhằm giúp chúng ta thoát khỏi ảo tưởng về bản thân có đủ năng lực để đạt đến tiêu chuẩn được phước. Điều này giúp thành hình trong chúng ta ý thức về tình trạng nghèo khó tâm linh của mình.

Thế thì, đâu là kết quả thực tiễn của phước lành này? Trong công việc, nếu chúng ta là người nghèo khó tâm linh thì chúng ta sẽ đánh giá về bản thân cách chân thật. Chúng ta biết rất khó làm việc với những người luôn cố gắng duy trì một hình ảnh giả tạo về bản thân vì những người đó không chịu tiếp thu, không chịu phát triển và không chịu tiếp nhận những lời góp ý. Do đó chúng ta cần hết sức trung thực với bản thân của mình. Chúng ta sẽ không thổi phồng bản sơ yếu lý lịch hay khoe khoang về vị trí của mình. Chúng ta cần nhớ ngay cả Chúa Giê-xu, khi Ngài khởi sự làm thợ mộc, chắc hẳn Ngài cũng cần đến sự hướng dẫn và chỉ dạy. Đồng thời, chúng ta cũng xác nhận chỉ khi có Đức Chúa Trời hành động bên trong, thì chúng ta mới có thể áp dụng những sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu vào công việc của mình. Chúng ta cần tìm kiếm sự hiện diện và sức lực của Chúa mỗi ngày để sống đúng với địa vị là những Cơ Đốc Nhân tại nơi làm việc của mình.

Trong thế giới sa ngã này, sự nghèo khó tâm linh dường như là lực trì kéo khiến chúng ta khó đạt đến thành công hay sự thăng tiến. Nhưng đó thường là ảo giác đánh lừa chúng ta. Trên chặng đường dài, mẫu người nào sẽ là thành công? Phải chăng đó là mẫu người lãnh đạo tuyên bố, “Đừng sợ, tôi có thể xử lý mọi việc, cứ làm theo những gì tôi nói,” hay một người lãnh đạo nói rằng, “chúng ta có thể làm được điều này cùng với nhau, nhưng mỗi người cần cố gắng hết sức mình.” Đã từng có giai đoạn mà những người lãnh đạo kiêu ngạo, khoe khoang được kể là tốt hơn những lãnh đạo khiêm nhường, biết chia sẻ thẩm quyền. Nhưng hiện nay quan niệm đó không còn, ít nhất là với những tập đoàn hàng đầu thế giới. Theo nghiên cứu nổi tiếng của Jim Collin, người lãnh đạo khiêm nhường là đặc điểm trước tiên của rất nhiều những công ty đạt được thành công và duy trì trong suốt một thời gian dài.[2] Tất nhiên, vẫn có rất nhiều nơi làm việc còn vướng phải tình trạng khoe khoang và tự thổi phồng bản thân. Trong một số trường hợp, thì lời khuyên tốt nhất cho chúng ta là: nếu có thể, hãy tìm việc làm ở một nơi khác. Tuy nhiên trong các trường hợp khác, khi tìm kiếm một nơi làm việc khác là không khả thi, hay không phải là điều nên làm, bởi vì việc sống đúng với địa vị là Cơ Đốc Nhân trong một môi trường như vậy có thể sẽ đem lại những thay đổi tích cực. Trong những trường hợp đó, người nghèo khó tâm linh sẽ trở nên nguồn phước cho những người xung quanh mình.

“Phước cho những người than khóc, vì sẽ được an ủi” (Ma-thi-ơ 5:4)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Phước lành thứ hai dựa trên nhận thức của chúng ta về sự nghèo nàn tâm linh của mình và bày tỏ đáp ứng với cảm xúc đau buồn. Khi chúng ta phải đối diện với những tội lỗi trong cuộc sống của mình, chúng ta đau buồn. Khi chúng ta đối diện với những tội lỗi trong thế giới này, kể cả tại làm việc của mình, chúng ta cũng đau buồn. Tội lỗi hay điều ác có thể đến từ chính chúng ta, từ những người khác hay vì những nguyên nhân nào đó không xác định. Nhưng dù là trường hợp nào, khi chúng ta thật lòng than khóc về những ngôn từ độc ác, những việc làm xấu xa, những chính sách sai trái, Đức Chúa Trời sẽ thấy lòng đau buồn của chúng ta và Ngài sẽ an ủi chúng ta rằng không phải lúc nào cũng như vậy.

Những người than khóc cho thất bại bản thân có thể nhận sự an ủi bằng việc thừa nhận những lỗi lầm của mình; nhờ đó họ được phước. Nếu chúng ta có lỗi với đồng nghiệp, sinh viên, khách hàng, nhân viên hay ai khác, thì chúng ta cần phải nhận lỗi của mình và xin được tha thứ. Điều này đòi hỏi sự can đảm! Chúng ta chỉ có đủ can đảm để làm điều này khi chúng ta đã được nhận lãnh ơn phước qua trải nghiệm đau buồn về những việc làm sai trái của mình.

Khi thừa nhận việc làm sai trái của mình với người khác và xin lỗi họ, chúng ta sẽ ngạc nhiên về sự sẵn lòng tha thứ của họ dành cho chúng ta. Nếu trong một số trường hợp, những người chúng ta đến xin lỗi lợi dụng việc này, thì chúng ta vẫn có chỗ dựa vững chắc nơi phước lành thứ nhất dành cho những ai không lên mình kiêu ngạo.

Một số doanh nghiệp nhận thấy việc bày tỏ lòng đau buồn là cách làm việc hiệu quả. Toro là công ty sản xuất đầu máy kéo và thiết bị cắt cỏ, đã áp dụng chính sách bày tỏ sự quan tâm đối với những người gặp tai nạn khi sử dụng những sản phẩm của công ty. Ngay khi công ty biết có tai nạn xảy ra, họ sẽ liên hệ trực tiếp với người bị nạn để bày tỏ lòng đau buồn và đề nghị được giúp đỡ người bị nạn. Đồng thời Toro cũng xin được góp ý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. Điều ngạc nhiên là nhờ áp dụng chính sách này, số lượng khách hàng đâm đơn kiện công ty đã giảm hẳn trong suốt nhiều năm.[1] Bệnh viện Virginia Mason cũng gặt hái được những kết quả tương tự khi thừa nhận trách nhiệm của bệnh viện đã sai sót khi chữa trị khiến bệnh nhân thiệt mạng.[2]

“Phước cho những người nhu mì, vì sẽ thừa hưởng đất” (Ma-thi-ơ 5:5)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Rất nhiều người đi làm ngày nay không hiểu ý nghĩa của phước lành này. Một phần vì họ không hiểu nhu mì là như thế nào. Một số cho rằng từ này có nghĩa là yếu đuối, hiền lành, hay thiếu can đảm. Tuy nhiên, Kinh Thánh định nghĩa sự nhu mì là khả năng kiểm soát quyền lực. Trong Cựu Ước, Môi-se được gọi là người nhu mì hơn hết mọi người trên thế gian (Dân 12:3). Chúa Giê-xu mô tả chính Ngài như là một người “nhu mì và khiêm nhường” (Mat 11:28-29), nhưng điều đó vẫn nhất quán với việc Ngài quyết liệt dọn sạch đền thờ (Mat 21:12-13).

Việc kiểm soát quyền lực bao gồm hai điều: thứ nhất, không tôn cao bản thân; và thứ hai, không làm bất cứ việc gì vì lợi ích của cá nhân. Phao-lô đã mô tả đặc điểm thứ nhất này rất rõ trong Rô-ma 12:3. “Vì nhờ ân điển đã ban cho tôi, tôi nói với mỗi người trong anh em, đừng nghĩ quá cao về chính mình, nhưng phải suy nghĩ đúng mực, tùy theo lượng đức tin mà Đức Chúa Trời đã ban cho từng người.” Người nhu mì luôn ý thức mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời và không tôn cao bản thân hơn những gì mình có. Nhu mì có nghĩa là chấp nhận những điểm tốt và những giới hạn thay vì luôn cố gắng tìm mọi cách tô vẽ bản thân. Tuy nhiên, người nhu mì không phải là người phủ nhận những điểm mạnh và khả năng của mình. Khi người ta hỏi Chúa Giê-xu rằng Ngài có phải là Đấng Mê-si-a hay không, Chúa Giê-xu đã trả lời rằng, “Người mù được sáng, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết được sống lại, và người nghèo được nghe Tin Lành. Phước cho người nào không vấp phạm vì cớ Ta” (Mat 11:4-6). Chúa Giê-xu không hề tôn cao hay tự ti về bản thân, nhưng bày tỏ tấm lòng “đúng mực” của một người đầy tớ mà Phao-lô nói trong Rô-ma 12:3.

Khía cạnh thứ hai của sự nhu mì có điểm mấu chốt là tấm lòng của người phục vụ: không làm bất cứ việc gì vì lợi ích cá nhân, không sử dụng quyền lực mình có vì lợi ích của bản thân, nhưng phải vì lợi ích của mọi người. Khía cạnh thứ hai này đã được mô tả rõ trong Thi Thiên 37:1-11a. Phân đoạn này bắt đầu bằng câu “chớ phiền lòng vì kẻ làm dữ,” và kết thúc bằng câu “còn người nhu mì sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp.” Điều này có nghĩa chúng ta cần kiềm chế bản thân không trả thù người khác vì những điều xấu họ đã làm cho chúng ta, nhưng hãy dùng bất cứ quyền lực nào chúng ta có để phục vụ những người khác. Đây là hệ quả từ phước lành thứ hai, khi chúng ta đau buồn về sự yếu đuối của chính mình. Nếu chúng ta thật sự đau buồn về tội lỗi chính mình, thì làm sao chúng ta có thể trả thù những người khác vì tội lỗi của họ?

Việc giao phó quyền lực của chúng ta ở nơi làm việc dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời thật sự là một điều vô cùng thách thức. Trong thế giới sa ngã này, dường như những người trơ trẽn, biết đề cao bản thân lại luôn là những kẻ thành công. “Bạn có là nhờ bạn mặc cả chứ không hẳn vì bạn xứng đáng.”[1] Trong nơi làm việc, kẻ kiêu ngạo và quyền thế luôn chiến thắng, nhưng đến cuối cùng họ sẽ là người thua cuộc. Họ không có những mối thân tình cá nhân. Không ai muốn có một
người bạn kiêu ngạo, luôn chỉ tìm điều lợi cho chính mình. Những người thèm khát quyền lực luôn là những người đơn độc. Họ cũng không có được sự đảm bảo về tài chính. Họ nghĩ mình sở hữu cả thế giới, nhưng thật ra, thế giới đang sở hữu họ. Càng có nhiều tiền bao nhiêu, họ lại càng cảm thấy bất an bấy nhiêu.

Ngược lại Chúa Giê-xu đã dạy “người nhu mì sẽ thừa hưởng đất”. Chúng ta đã đề cập trong phần trước, nước thiên đàng đã vào thế giới này. Chúng ta thường cho rằng nước thiên đàng là một nơi hoàn toàn khác lạ so với những gì chúng ta từng biết. Ví dụ những con đường lót vàng, những cánh cổng ngọc trai, ngôi nhà lớn trên đỉnh đồi. Nhưng lời hứa của Đức Chúa Trời về thiên đàng là trời mới và đất mới (Khải 21:1). Những ai bằng lòng phó thác quyền lực của mình dưới quyền tể trị của Đức Chúa Trời sẽ thừa hưởng một vương quốc trọn vẹn đến trên đất này. Trong vương quốc đó, bởi ân điển của Chúa chúng ta sẽ được nhận lãnh những điều tốt lành mà kẻ kiêu ngạo trên đất này đang nhọc công tìm kiếm nhưng chẳng đạt được. Điều này không chỉ xảy đến trong tương lai nhưng ngay trong đời này, những ai biết rõ điểm mạnh và điểm yếu của mình vẫn có thể kinh nghiệm một đời sống bình an. Những người biết sử dụng quyền lực của mình vì lợi ích của
người khác luôn được khen ngợi. Người nhu mì biết lắng nghe những người khác khi đưa ra quyết định nhờ đó họ có những kết quả tốt hơn cùng những mối liên hệ sâu sắc hơn.

“Phước cho những người đói khát sự công chính, vì sẽ được no đủ” (Ma-thi-ơ 5:6)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Để hiểu phước lành thứ tư chúng ta cần hiểu ý nghĩa của sự công chính mà Chúa Giê-xu đề cập. Trong thời của Chúa Giê-xu, Do Thái Giáo dạy sự công chính có nghĩa là “được tha bổng, minh oan, hay phục hồi mối liên hệ đúng đắn.”[1] Người công chính là người giữ mối liên hệ đúng với Đức Chúa Trời và với những người xung quanh. Trên căn bản của những mối liên hệ này, dù một người có vi phạm vẫn được kể là vô tội.

Có bao giờ các bạn nhận phước lành vì cuộc sống ngập tràn trong những mối liên hệ đúng đắn hay chưa? Điều này phát xuất từ lòng nhu mì trong phước lành thứ ba bởi vì chúng ta chỉ có thể thiết lập những mối liên hệ đúng đắn với người khác khi chúng ta từ bỏ tìm kiếm lợi ích cho riêng mình. Các bạn có khao khát thiết lập những mối liên hệ đúng với Chúa, với những đồng nghiệp, với gia đình và cộng đồng xung quanh? Đói khát là dấu hiệu của sự sống. Chúng ta sẽ thật sự đói khát những mối liên hệ đúng đắn nếu chúng ta thật lòng mong muốn điều ích lợi cho người khác. Nếu chúng ta nhận thức ân điển của Chúa ở cùng chúng ta khi làm điều này thì chúng ta sẽ càng khao khát có được mối liên hệ đúng đắn, không chỉ với Chúa, nhưng còn với những người chúng ta sống hay làm việc chung. Chúa Giê-xu dạy rằng, những ai đói khát sự công chính sẽ được (Chúa ban cho) no đủ. Thật dễ dàng để chúng ta thấy những sai trật trong nơi mình làm việc và mong muốn đấu tranh để thay đổi. Khi đó chúng ta đói khát sự công bình, mong muốn điều sai bị bãi bỏ và điều đúng được thiết lập. Niềm tin Cơ Đốc Giáo từng là khởi nguồn của rất nhiều cuộc cải cách vĩ đại trong nơi làm việc, nổi bật nhất là việc bãi bỏ chế độ nô lệ ở nước Anh và sự khởi đầu của phong trào Dân Quyền tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cần nhắc lại điều quan trọng ở đây là sự nối kết giữa các phước lành. Chúng ta không đấu tranh dựa trên sức lực của chính mình, nhưng bởi nhận thức về sự cạn kiệt, bất lực của bản thân, than khóc vì sự bất công, và giao phó quyền lực mình có dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời.

“Phước cho những người có lòng thương xót, vì sẽ được thương xót” (Ma-thi-ơ 5:7)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Nếu chúng ta được nhận lãnh phước lành thứ hai khi đau buồn về những thất bại của bản thân và được nhận lãnh phước lành thứ tư nhờ có những mối liên hệ đúng đắn, thì chúng ta sẽ dễ dàng bày tỏ lòng thương xót cho những người chúng ta gặp tại nơi mình làm việc hoặc bất kỳ nơi nào khác. Thương xót là khi chúng ta đối đãi với người khác tốt hơn mức độ họ xứng đáng nhận. Tha thứ là một hình thức của sự thương xót. Việc giúp đỡ những người chúng ta không có trách nhiệm phải giúp đỡ, hay không lợi dụng điểm yếu của người khác cũng là sự thương xót. Thương xót chính là động lực trong việc Đấng Christ xuống thế làm người, chịu chết và phục sinh. Nhờ Ngài, chúng ta được tha tội và nhận được sự giúp đỡ từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời (I Cô 12). Lý do vì sao Thánh Linh lại bày tỏ lòng thương xót đối với chúng ta đơn giản vì Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta (Giăng 3:16).

Trong môi trường làm việc, lòng thương xót là điều rất thực tiễn. Chúng ta phải giúp đỡ người khác đạt được kết quả tốt nhất mà không phụ thuộc vào suy nghĩ của chúng ta về họ. Khi chúng ta giúp đỡ người cùng làm việc mà chúng ta không thích hay là người đã từng làm tổn thương chúng ta trong quá khứ, thì lúc đó chúng ta đang bày tỏ lòng thương xót. Khi chúng ta báo cho những thí sinh dự thi sau mình rằng các giám khảo không được vui vẻ cho lắm, dù điều này có thể giúp họ chiếm ưu thế, thì đó là lòng thương xót. Khi nhân viên thuyết trình cho đối thủ cạnh tranh của chúng ta có con bị bệnh và chúng ta đồng ý dời lại buổi thuyết trình với khách hàng để nhân viên đó không phải chọn lựa giữa việc chăm sóc con hay thuyết trình để giành hợp đồng, đó là hành động của lòng thương xót.

Những hành động bày tỏ lòng thương xót như trên có thể tước mất những ưu thế của chúng ta. Tuy nhiên, chúng đem lại ích lợi cho công việc của chúng ta cũng như ích lợi cho người khác. Giúp đỡ những người chúng ta không thích có thể giúp nhóm làm việc của chúng ta đạt mục tiêu, mặc dù điều đó có thể không đem lại ích lợi gì cho bản thân. Trong trường hợp nhân viên thuyết trình của đối thủ cạnh tranh có con bị bệnh, nếu quyết định dời lại buổi thuyết trình của các bạn không có lợi cho công ty, thì nó đem lại lợi ích cho khách hàng của các bạn, khi họ có thêm sự lựa chọn. Nền tảng của lòng thương xót là đem lại ích lợi cho người khác thay vì cho bản thân.

Một tổ chức có sự tha thứ trong môi trường làm việc sẽ đem lại những kết quả bất ngờ, sẽ góp phần nâng cao kết quả công việc. Trong một môi trường làm việc thiếu sự tha thứ, nếu một ai đó phạm lỗi, họ sẽ không dại gì nói ra và hy vọng không bị ai phát hiện và chỉ ra lỗi lầm của họ. Điều này sẽ làm giảm chất lượng công việc trong hai khía cạnh. Thứ nhất, khi sai phạm bị che giấu, thì sau đó sẽ rất khó để giải quyết. Thử tưởng tượng một công nhân làm sai khi thi công móng của công trình xây dựng. Đây là điều rất dễ sửa chữa nếu được phát hiện sớm. Nhưng sẽ tốn kém rất nhiều chi phí để sửa chữa một khi công trình đã được xây lên và phần móng đã bị chôn vùi bên dưới. Thứ hai, những kinh nghiệm tốt nhất rút ra từ những thất bại. Soichiro Honda có nói, “chỉ có thể đạt được thành công sau nhiều lần thất bại và rút kinh nghiệm. Trên thực tế, thành công chỉ đại diện cho 1% của công việc mà các bạn đã rút ra từ 99% mà chúng ta gọi là thất bại.”[1] Tổ chức sẽ không có cơ hội để rút kinh nghiệm nếu những sai trật không được phơi bày.

“Phước cho những người có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 5:8)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents
SỰ CHÍNH TRỰC TRONG VIỆC MUA BÁN XE HƠI

Giá trị của sự chính trực trong kinh doanh có thể được minh họa qua hình ảnh của Don Flow, ông là CEO của công ty mua bán xe hơi Flow Automotive. Don Flow có lòng khao khát sự công bằng. Nhưng ông đã nhận ra phương cách bán hàng trong các cửa hàng của mình dẫn đến sự bất công cho những khách hàng là người ít tiền. Don Flow không muốn tách rời công việc kinh doanh khỏi việc cam kết thực hiện sự công bằng. Vì vậy, ông đã thay đổi phương cách kinh doanh, ông giải thích phương cách kinh doanh mới của mình như sau:

“Chúng tôi có một tiến trình bán hàng lấy người mua làm trung tâm. Chúng tôi không còn giữ tiến trình mua bán cũ khi mà giá cả cứ phải thương lượng tới lui nhiều lần; chúng tôi đã thiết lập một hệ thống giá cả cố định. Sự thật là giá thành của chúng tôi đã giảm xuống đôi chút nhờ qui trình quản lý nội bộ giúp kiểm soát chi phí tốt hơn. Các bạn không cần là một người có tài thương lượng giá cả, hay có học thức cao để mua xe không bị hớ. Dù các bạn là tiến sĩ hay chỉ là một người lao công, thì giá bán một chiếc xe là như nhau. Chúng tôi đã làm một nghiên cứu và kết quả cho biết những người có tiền, thường giỏi mặc cả nên ít bị mua hớ; còn những người ít tiền thường không giỏi thương lượng nên dễ bị mua hớ. Với tôi, việc lợi dụng những người không giỏi mặc cả, ít tiền là một sự vi phạm nguyên tắc của Kinh Thánh trong sách Châm Ngôn. Do đó chúng tôi đã ngồi lại và tái cơ cấu việc kinh doanh của công ty. Cấu trúc lợi nhuận của chúng tôi cần được kiểm soát chặt chẽ hơn và chúng tôi cần truyền đạt giá trị này đúng cách để thuyết phục người mua rằng giá bán của chúng tôi là hợp lý.”[1]

Ý nghĩa của phước lành thứ sáu này như lặp lại ý của Thi Thiên 24:3-5

Ai sẽ lên núi Đức Giê-hô-va?
Ai sẽ đứng nổi trong nơi thánh Ngài?
Đó là người có tay trong sạch và lòng thanh khiết,
Không hướng linh hồn mình vào thần tượng hư không,
Cũng chẳng thề nguyện giả dối.
Người ấy sẽ nhận được phước từ nơi Đức Giê-hô-va V
à sự công chính từ nơi Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi mình.

“Tay trong sạch và lòng thanh khiết” đều thể hiện ý nghĩa chính trực, tận tụy, hết mực trung thành. Sự chính trực không chỉ dừng lại ở việc không lừa dối, không có hành vi xấu; nhưng cốt lõi của sự chính trực là sự trọn vẹn. Điều này có nghĩa hành vi của chúng ta không chỉ đơn thuần là những chọn lựa dựa trên tiêu chí tiện lợi, nhưng nó phải phát xuất từ chính con người của chúng ta. Điểm cần lưu ý Chúa Giê-xu không công bố phước lành của người có lòng trong sạch ngay sau phước lành của người đói khát sự công chính, nhưng Ngài lại đặt nó sau phước lành của người có lòng thương xót. Điều này bày tỏ lòng trong sạch không bắt nguồn từ cố gắng kiện toàn ý chí của con người, nhưng đến từ việc con người tiếp nhận ân điển của Đức Chúa Trời.

Chúng ta có thể tự kiểm chứng chính mình đã được nhận lãnh phước lành này như thế nào với các câu hỏi: trong những trường hợp tôi có thể dễ dàng “qua mặt” bằng mánh khóe tinh vi, và có thể sẽ không ai biết, tôi có kiên quyết chọn lựa sự chính trực không? Tôi có quyết tâm không để quan điểm cá nhân về một người nào đó bị chi phối bởi những tin đồn cho dù chúng (có vẻ) rất thuyết phục? Hành động và lời nói có bày tỏ đúng con người thật của tôi hay không? Sự chính trực tại nơi làm việc là điều không ai có thể phủ nhận, nhưng trong thế giới sa ngã này, nó lại trở thành thứ bị giễu cợt. Sự chính trực thường bị xem là nhu nhược, yếu đuối giống như lòng thương xót và nhu mì. Nhưng người chính trực sẽ được “thấy Đức Chúa Trời.” Mặc dù Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời là Đấng vô hình và “ngự giữa ánh sáng không ai có thể đến gần được” (1 Ti 1:17, 6:16), nhưng người chính trực có thể nhận biết và ý thức được sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đời sống. Trên thực tế, nếu không có sự chính trực thì những sự dối trá mà con người đồn thổi chống đối nhau sẽ khiến chúng ta không thể nhận biết được đâu là chân lý nữa. Khi đó, con người sẽ bắt đầu tin vào những lời bịa đặt của chính mình. Điều này sẽ tàn phá môi trường làm việc của chúng ta, bởi vì khi làm việc dựa trên những điều giả dối thì sẽ không thể đem lại kết quả. Người không có lòng trong sạch không hề muốn nhìn thấy Đức Chúa Trời, nhưng những ai là một phần trong vương quốc của Đấng Christ sẽ được phước bởi vì họ nhìn biết thực tại cách rõ ràng, họ được “thấy” sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

“Phước cho những người hòa giải, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 5:9)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Phước lành thứ bảy đem mọi người tin Chúa vào công tác hòa giải xung đột. Xung đột xảy ra khi con người có những ý kiến trái ngược nhau. Trong thế giới sa ngã này, con người luôn có xu hướng hoặc phớt lờ sự xung đột hoặc dập tắt xung đột bằng vũ lực hay sự đe dọa. Nhưng cả hai giải pháp đó đều vi phạm nguyên tắc chính trực trong phước lành thứ sáu đối với những người đang ở trong sự xung đột. Trong vương quốc của Đức Chúa Trời, việc hòa giải những người đang xung đột và đem họ trở lại với nhau là một phước lành. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể giải quyết mâu thuẫn và phục hồi những mối liên hệ.[1]

Kết quả của việc giải hòa xung đột là hòa bình, và người hòa giải sẽ được gọi là “con Đức Chúa Trời.” Là con của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ phản chiếu bản tính thiêng liêng của Chúa qua những việc làm của mình vì Ngài là Đức Chúa Trời của hòa bình (1 Tê 5:16). Chúng ta bày tỏ chính mình là con của Đức Chúa Trời khi chúng ta là người giải hòa tại nơi làm việc, trong cộng đồng, trong gia đình và trong thế giới này.

“Phước cho những người chịu bắt bớ vì sự công chính” (Ma-thi-ơ 5:10)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Phước lành thứ tám có thể khiến chúng ta có cảm giác tiêu cực. Đến đây các phước lành chủ yếu tập trung vào những điều tích cực như sự khiêm nhường, nhu mì, các mối liên hệ đúng đắn, lòng nhân từ, tấm lòng trong sạch, và sự hòa giải. Nhưng tại đây Chúa Giê-xu cho biết chúng ta có thể phải chịu “bắt bớ vì sự công chính.” Phước lành này phát xuất từ bảy phước lành trước đó, bởi vì những thế lực chống đối Đức Chúa Trời trong thế gian vẫn rất mạnh mẽ.

Cần lưu ý nếu ai đó bị trừng phạt vì sự bất chính thì điều đó không kể là ơn phước. Nếu chúng ta thất bại vì cớ sai lầm của bản thân, thì đương nhiên chúng ta phải gánh chịu những hậu quả. Nhưng ở đây Chúa Giê-xu nói về phước lành của việc chịu bắt bớ vì làm điều đúng. Tại sao chúng ta lại bị bắt bớ vì sự công chính? Trong thế giới sa ngã này, nếu chúng ta sống cách công chính, thì sẽ có nhiều người hắt hủi chúng ta. Chúa Giê-xu đã dùng các tiên tri làm ví dụ để giải thích thêm. Các tiên tri là những người cũng giống như Ngài, rao báo về vương quốc của Đức Chúa Trời và cũng phải chịu bắt bớ. “Phước cho các con khi vì Ta mà các con bị mọi người nhục mạ, bắt bớ, vu cáo đủ mọi điều xấu. Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng của các con ở trên trời là rất lớn; bởi vì các nhà tiên tri trước các con cũng từng bị người ta bắt bớ như vậy” (Mat 5:11-12). Những người công chính trong nơi làm việc sẽ phải đối diện với sự bắt bớ thường xuyên, hay thậm chí là rất dữ dội bởi những người trục lợi, hay từ những người tin rằng họ được hưởng lợi từ sự bất công. Ví dụ khi các bạn lên tiếng bênh vực cho một người là nạn nhân của những lời đồn đoán vô căn cứ, hay bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc, thì chắc chắn các bạn sẽ bị bắt bớ. Nếu bạn là chủ tịch hiệp hội thương mại và lên tiếng phản đối sự bất công trong việc phân chia tiền tài trợ cho thành viên của hội thì đừng mong họ sẽ đề cử bạn trong nhiệm kỳ sau. Chịu sự bắt bớ vì những lý do chính trực là một phước lành, bởi vì điều đó cho thấy thế lực chống đối Đức Chúa Trời tin rằng các bạn đang thành công trong việc mở rộng vương quốc của Chúa.

Ngay cả những tổ chức tốt nhất và những con người đáng kính nhất vẫn
không toàn hảo, mọi người đều bị ảnh hưởng bởi tội lỗi. Phước lành thứ tám là sự
nhắc nhở: chúng ta cần có lòng dũng cảm khi làm việc trong một thế giới sa ngã.

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG TRONG NƠI LÀM VIỆC (MA-THI-Ơ 5:13-16)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents
MỘT VÍ DỤ THỰC TẾ: BẠN CÓ THỂ CỞI MỞ CHIA SẺ NIỀM TIN ĐẾN MỨC NÀO?

Findlay đã tranh chiến với bản thân một thời gian. Sau đó, anh đã quyết định sẽ đặt quyển Kinh Thánh của mình trên bàn làm việc. Kể từ khi tin Chúa, anh luôn muốn bày tỏ cho những người khác biết về niềm tin của mình. Vì vậy, anh cho rằng sự thay đổi nhỏ này sẽ giúp mở ra những cơ hội mới.

Chẳng bao lâu việc làm của Findlay đã được các đồng nghiệp nhận ra. Trưởng phòng nhân sự đã đến và nói rằng: “Anh bạn, đây là cái gì thế? Anh đã gia nhập hội của họ rồi sao?” Findlay cảm thấy hơi run. Anh biết những lời anh sắp nói rất quan trọng, vì vậy anh đã xin Chúa chỉ dạy anh điều mình phải nói.

“Ồ, tôi rất vui vì anh đã nhận ra điều này. Tôi chỉ vừa đem nó vào ngày hôm qua. Một điều gì đó đã xảy đến trên đời sống của tôi và quyển sách này chính là một phần trong câu chuyện đó.” Người trưởng phòng đáp, “À, rất cám ơn anh, tôi hết sức tôn trọng anh. Tôi sẽ nghe câu chuyện đó vào một ngày khác vậy. Nhưng tôi muốn nhắc anh điều này, ưu tiên của anh phải luôn là công việc của công ty. Với tôi, tôn giáo là vấn đề cá nhân, nó nên được giới hạn ở nhà và trong ngày Chúa Nhật mà thôi.”

CÂU HỎI THẢO LUẬN

Khi nào là thời điểm thích hợp để bày tỏ niềm tin của bạn cho những người khác? Khi nào không phải là thời điểm thích hợp? Chúng ta nên là người khởi xướng hay để cho những người khác bắt đầu trước?

Vì sao những người trong nơi làm việc thường cho rằng niềm tin không nên xen lẫn vào công việc, thay vì kết hợp niềm tin trong mọi quyết định và mối liên hệ hằng ngày?

THAM KHẢO

Các con là muối của đất… là ánh sáng cho thế gian. Ánh sáng của các con phải chiếu sáng trước mặt mọi người, để họ thấy những việc làm tốt đẹp của các con và ca ngợi Cha các con ở trên trời (Ma-thi-ơ 5:13, 14, 16). Thế thì, hễ ai xưng nhận Ta trước mặt thiên hạ, Ta cũng sẽ xưng nhận người ấy trước mặt Cha Ta ở trên trời (Ma-thi-ơ 10:32).

PHƯƠNG CÁCH ÁP DỤNG

Các doanh nghiệp luôn khéo léo thể hiện thái độ thiện cảm với những nhân viên có gia đình; với các vấn đề tôn giáo họ cũng có cách ứng xử tương tự. Người chủ nào cũng muốn nhân viên của mình cống hiến những gì tốt nhất cho họ, nhưng người chủ không bao giờ buộc nhân viên của mình phải tách biệt giữa niềm tin và công việc. Trên thực tế, người làm việc tốt là người tuân giữ nguyên tắc trong Cô-lô-se 3:23 “Khi làm bất cứ việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa chứ không phải làm cho người ta.” Trường hợp trên là minh họa cho sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu trong Ma-thi-ơ 5:13-16 ví sánh chúng ta là muối của đất, là ánh sáng cho thế gian.[1]

Trong bài giảng trên núi, ngay sau các phước lành, Chúa Giê-xu đã nói với những người theo Ngài rằng những ai nhận lãnh các ơn phước này là những người vô cùng quan trọng:

Các con là muối của đất, nhưng nếu muối mất vị mặn thì làm thế nào cho nó mặn lại được? Muối ấy trở nên vô dụng, phải ném bỏ đi và bị người ta chà đạp dưới chân. Các con là ánh sáng cho thế gian. Một cái thành xây trên núi thì không thể bị che khuất được. Không ai thắp đèn mà lại đặt dưới cái thùng, nhưng đặt trên chân đèn để nó soi sáng mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của các con phải chiếu sáng trước mặt mọi người, để họ thấy những việc làm tốt đẹp của các con và ca ngợi Cha các con ở trên trời. (Mat 5:13-16)

Nếu bạn là người tin Chúa và sống đúng theo các phước lành kể trên thì bạn là một người quan trọng. Bạn là muối và ánh sáng của thế giới. Muối có tác dụng bảo tồn, và Cơ Đốc Nhân là người giúp gìn giữ những điều tốt đẹp ở trong thế giới này. Khi xưa, muối rất giá trị. Người Hy Lạp nghĩ rằng muối chứa đựng một điều gì đó thiêng liêng. Còn chính quyền Rô-ma có lúc đã trả lương cho những binh sĩ của mình bằng muối. Một người lính không làm tròn nhiệm vụ thì “không đáng nhận muối của mình.” Bạn là một tác nhân đem đến hương vị. Trong một khía cạnh nào đó, bạn là người đem vào cuộc sống này hương vị đặc trưng cho những tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời. Bạn khiến cho cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn.

Điểm cần lưu ý muối chỉ thật sự ích lợi khi ảnh hưởng của chất mặn thể hiện, như khi được dùng ướp thịt hay cá giúp giữ cho chúng khỏi bị hư. Vì vậy, để đem lại ích lợi, chúng ta là muối, chúng ta cần hòa nhập vào nơi mình làm việc và sinh sống. Điều này sẽ tạo nên sức ép bởi vì môi trường xung quanh có thể không hề ưa thích chúng ta. Trong đa số các trường hợp, việc sống đúng với các phước lành thường giúp chúng ta thành công hơn trong công việc. Nhưng chúng ta cũng cần chuẩn bị tinh thần cho những hoàn cảnh không được như vậy. Chúng ta sẽ làm gì khi việc bày tỏ lòng thương xót, đem lại sự hòa giải hay sống công chính khiến địa vị của chúng ta trong công việc bị ảnh hưởng? Rút lui khỏi thế giới này không phải là giải pháp cho Cơ Đốc Nhân. Nhưng việc sống trong thế giới và sẵn sàng thách thức những đường lối của thế
giới không phải là điều dễ dàng. Trong Ma-thi-ơ 5:10-12, Chúa Giê-xu đã khẳng định sự bắt bớ là điều có thật. Nhưng khi tiếp xúc với môi trường xung quanh, chúng ta phải luôn giữ được “độ mặn,” điểm đặc trưng của mình. Chúng ta được kêu gọi để thực hiện việc này và giữ sự quân bình.

“Các con là ánh sáng cho thế gian.” Công tác của người Cơ Đốc không chỉ bao gồm việc giữ một đời sống thánh khiết cho riêng mình, nhưng cũng bao gồm cả việc tác động đến đời sống của những người xung quanh chúng ta. Trong công việc, chúng ta tiếp xúc với rất nhiều người không có cơ hội gặp gỡ Chúa Giêxu trong nhà thờ. Có thể đó là môi trường tốt nhất để chúng ta làm chứng về Chúa. Nhưng chúng ta cũng cần thận trọng về cách chúng ta làm chứng cho những người cùng làm việc với mình. Chúng ta được trả lương để làm việc, vì thế chiếm dụng thời gian làm việc để làm chứng là một việc không tốt. Hơn nữa, nếu vì việc làm chứng chúng ta khiến môi trường làm việc bị chia rẽ hay thiếu thân thiện với những người chưa tin Chúa thì lại càng tệ hơn.
Chúng ta cần tránh để người khác hiểu lầm chúng ta chia sẻ về Chúa để tự tôn chính mình. Điều đó sẽ tạo nên ảnh hưởng không tốt. Chúng ta cũng luôn phải đối diện với nguy cơ khi chúng ta không hoàn tất công việc của mình, chính điều đó sẽ bôi nhọ hình ảnh của Đấng Christ, đặc biệt khi chúng ta trông có vẻ năng nổ trong việc truyền giảng nhưng lại biếng nhác trong công việc làm.

Với những rủi ro đó, làm thế nào chúng ta có thể trở thành muối và ánh sáng trong nơi làm việc? Chúa Giê-xu nói, “ánh sáng” của chúng ta không nhất thiết phải thể hiện bằng lời làm chứng nhưng cần được chứng thực bởi các “việc làm tốt đẹp” của chúng ta. “Ánh sáng của các con phải chiếu sáng trước mặt mọi người, để họ thấy những việc làm tốt đẹp của các con và ca ngợi Cha các con ở trên trời.” Các phước lành đã chỉ cho chúng ta một số những việc làm tốt đẹp: khiêm nhường và vâng phục Đức Chúa Trời, hướng đến những mối liên hệ đúng đắn, những việc làm đầy lòng thương xót và trở nên một người hòa giải. Khi chúng ta sống trong vai trò là một nguồn phước, chúng ta sẽ trở nên muối và ánh sáng tại nơi làm việc, trong gia đình và cho xã hội.

SỐNG BÀY TỎ “SỰ CÔNG CHÍNH” CỦA NƯỚC THIÊN ĐÀNG (MA-THI-Ơ 5:17-48)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Lời Chúa Giê-xu tuyên bố trong Ma-thi-ơ 5:20 thật kinh ngạc. “Ta bảo cho các con biết: Nếu sự công chính của các con không hơn sự công chính của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, các con không thể vào vương quốc thiên đàng được.” Dân chúng lúc bấy giờ rất kính trọng sự công chính mà các lãnh đạo tôn giáo của họ phô trương và chưa bao giờ nghĩ rằng họ có thể đạt đến điều đó. Chúa Giê-xu đã làm mọi người rất đỗi kinh ngạc khi tuyên bố, chỉ những ai có được sự công chính vượt hơn những người Pha-ri-si và thầy thông giáo mới được vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Thế thì ai có thể được cứu? Vấn đề là chúng ta đánh đồng sự công chính với biểu hiện của sự sùng đạo. Đây là cách hiểu thông thường thời bấy giờ cũng như hiện nay. Tuy nhiên, phước lành thứ tư cho biết, từ “công chính” trong Kinh Thánh chỉ về những mối liên hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời và với những người xung quanh. Điều này bao hàm luôn cả những mối liên hệ tại nơi làm việc.

Điều này trở nên rõ ràng trong những hình ảnh minh họa sau đó. Trong Mathi-ơ 5:21-26, không phạm tội giết người vẫn là chưa đủ; chúng ta cần giữ mình khỏi sự giận dữ là điều có thể dẫn đến việc lăng mạ người khác và làm đổ vỡ những mối liên hệ. Chúng ta có thể cảm thấy giận dữ, nhưng cách tốt nhất để giải quyết cơn giận là giải hòa xung đột. Những lời lăng mạ và dèm pha chỉ khiến cho khoảng cách càng xa thêm (Mat 18:15-19). Chúa Giê-xu nói rõ mối liên hệ giữa bạn và những anh chị em khác quan trọng đến mức cần gác lại những nghi lễ tôn giáo để giải hòa với nhau.

Trong nơi làm việc, cơn giận có thể được dùng để điều khiển người khác. Cơn giận có thể chiếm hữu bạn những lúc bạn cảm thấy mình bị đối xử bất công. Hãy giải quyết vấn đề: chủ động giải hòa, mặc dù điều này có thể khiến bạn cảm thấy mất mặt. Can đảm làm điều đúng, giải quyết xung đột chính là đặc điểm của vương quốc mới. Một lần nữa chúng ta được nhắc nhở rằng, phước cho những người hòa giải.

CỦA CẢI VÀ SỰ CHU CẤP (MA-THI-Ơ 6)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Chúa Giê-xu thường nói về của cải. Của cải và sự chu cấp không phải là công việc, nhưng cả hai thường là kết quả từ công việc của chúng ta hay là của một ai khác. Theo nguyên lý kinh tế, mục đích của công việc là nhằm gia tăng của cải, và do đó chủ đề này có liên quan đến công việc. Đây là những gì Chúa Giê-xu dạy về của cải và sự chu cấp mỗi ngày trong bài giảng trên núi.

‘Xin Cho Chúng Con Hôm Nay Thức Ăn Đủ Ngày’ (Ma-thi-ơ 6:11)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Trong bài Cầu Nguyện Chung, ngay trước lời cầu xin sự ban cho thức ăn mỗi ngày, chúng ta cầu xin “Vương quốc Cha được đến, ý Cha được nên, ở đất như ở trời” (Mat 6:10). Trong vương quốc của Đức Chúa Trời có đủ thức ăn mỗi ngày là điều chắc chắn, nhưng trong thế giới tội lỗi này, có đủ thức ăn mỗi ngày vẫn là điều phải xem xét. Tuy Đức Chúa Trời đã ban cho con người mọi điều cần thiết để làm ra lương thực có đủ cho mọi người trên đất, nhưng chúng ta vẫn chưa thoát được nạn đói. Vì vậy, điều đầu tiên Chúa Giê-xu dạy về sự chu cấp mỗi ngày là lời cầu xin, “Xin cho chúng con hôm nay thức ăn đủ ngày.” Chúng ta đến với Chúa cầu xin Ngài ban cho chúng ta thức ăn.

Nhưng cần lưu ý lời cầu xin ở đây là dạng số nhiều: Xin cho CHÚNG CON hôm nay thức ăn đủ ngày. Chúng ta không chỉ cầu xin phần lương thực của riêng mình, nhưng cho cả những người đang thiếu thốn. Với lòng khao khát duy trì mối liên hệ đúng đắn, chúng ta phải quan tâm đến cả nhu cầu vật chất của những người khác. Chúng ta cần chia sẻ những gì mình có với những người đang cần. Nếu mọi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, và chính phủ đều hoạt động dựa trên mục đích và nguyên tắc của vương quốc Đức Chúa Trời, chắc chắn sẽ không còn cảnh đói kém.

Hãy Tích Trữ Của Cải Trên Trời, Đừng Tích Trữ Của Cải Dưới Đất (Ma-thi-ơ 6:19-34)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Chúng ta không chỉ cầu xin Chúa chu cấp mỗi ngày, nhưng chúng ta còn phải tránh việc tích trữ của cải trên đất này:

Các con đừng tích trữ của cải ở dưới đất, là nơi có mối mọt, ten rỉ làm hư, và kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy. Nhưng hãy tích trữ của cải ở trên trời, là nơi không có mối mọt, ten rỉ làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy. Vì của cải các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó. (Mat 6:19-21)

“Của cải ở trên trời” không phải là khái niệm mơ hồ về những gì đẹp lòng Đức Chúa Trời hay những thứ tương tự như vậy, vì vương quốc Đức Chúa Trời sẽ cai trị trên đất này. “Của cải ở trên trời” là những điều xứng đáng với vương quốc của Ngài như: sự công chính, tạo cơ hội để mọi người đều được phát triển, chu cấp cho những ai có nhu cầu và tôn trọng giá trị nhân phẩm của mỗi người. Hàm ý của sự dạy dỗ ở đây là chúng ta nên đầu tư của cải vào những hoạt động đem lại sự biến đổi cho thế giới thay vì chỉ đầu tư để bảo tồn của cải mình đã tích lũy.

Vậy lập kế hoạch tích lũy để dành cho việc nghỉ hưu hay quan tâm đến những nhu cầu vật chất trong đời này cho bản thân và cho những người khác là đúng hay sai? Câu trả lời ở đây là đúng và sai. Câu trả lời đúng đến từ những phân đoạn Kinh Thánh khác dạy chúng ta phải khôn ngoan và biết lo xa, ví dụ: “nhưng ai khéo tay thu góp thì của cải sẽ gia tăng” (Châm 13:11b), và, “người lành để lại gia sản cho con cháu mình” (Châm 13:22). Đức Chúa Trời hướng dẫn Giô-sép thâu trữ lương thực trong bảy năm chuẩn bị cho cơn đói xảy đến sau đó (Sáng 41:25-36). Chúa Giê-xu bênh vực cho việc đầu tư tiền bạc trong ẩn dụ về các ta-lâng (Mat 25:14-30, đây là phân đoạn sẽ bàn đến trong phần sau). Dưới sự soi sáng của cả Kinh Thánh, thì Ma-thi-ơ 6:19-34 không thể nào là mạng lệnh ngăn cấm cách tuyệt đối. Nhưng câu trả lời là sai dựa vào sự cảnh báo đã được tóm lược súc tích trong câu 21, “vì của cải các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó.” Có thể chúng ta nghĩ rằng câu trên phải đảo ngược mới đúng, nghĩa là “tấm lòng con ở đâu, thì của cải các con sẽ ở đó.” Lời dạy của Chúa Giê-xu ở đây vô cùng sâu sắc. Của cải thay đổi lòng người nhiều hơn là tấm lòng quyết định của cải sẽ chi dùng ra sao. Chúng ta thường hiểu sai mạng lệnh của Chúa Giê-xu theo chiều hướng: “Con người thường dùng tiền bạc cho những thứ họ xem là quan trọng.” Nhưng thật ra điều Chúa Giê-xu muốn dạy chúng ta là, “của cải mà con sở hữu sẽ thay đổi con, để rồi con chỉ biết quan tâm đến của cải hơn bất cứ thứ gì khác.” Hãy chọn lựa cẩn thận những gì bạn sở hữu, bởi vì chắc chắn bạn sẽ quý trọng và bảo vệ chúng và có thể dễ dàng dẫn đến việc vì chúng mà bạn gây nên nhiều tổn hại.

Chúng ta có thể gọi đây là “Nguyên Tắc Của Cải”, nghĩa là của cải có sức mạnh thay đổi. Những ai đầu tư của cải cho những thứ thuộc về thế gian sẽ không còn phục vụ Đức Chúa Trời nữa, nhưng phục vụ của cải (Mat 6:24). Điều này có thể dẫn đến sự lo lắng vì tiền của không bao giờ chắc chắn (Mat 6:25-34). Lạm phát có làm trượt giá tài sản của tôi không? Thị trường chứng khoán có nguy cơ sụt giảm không? Còn trái phiếu thì sao? Có nguy cơ bị vỡ nợ không? Liệu ngân hàng có bị phá sản không? Liệu tôi có thể chắc chắn mình đã tích trữ đủ để đối phó mọi tình huống sẽ xảy đến?

Phương thức hóa giải cho chúng ta là đầu tư để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của con người. Một công ty cung cấp nước sạch hay sản xuất quần áo chất lượng tốt vẫn có thể xem là đầu tư vào vương quốc Đức Chúa Trời. Ngược lại đầu cơ tích trữ những nguyên vật liệu khan hiếm, trục lợi từ thị trường bất động sản bị thao túng, tăng trưởng vượt quá giá trị thực thì rõ ràng không phải là đầu tư vào vương quốc Đức Chúa Trời. Phân đoạn này của Ma-thi-ơ 6 không trình bày nguyên tắc quản lý đầu tư, nhưng cho biết khi chúng ta cam kết giữ nguyên tắc và đường lối của vương quốc Đức Chúa Trời thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta sử dụng của cải.

Thế thì câu hỏi đặt ra là chúng ta cần có thái độ nào trước những nhu cầu vật chất cũng như việc tích trữ của cải? Nếu chúng ta lo lắng về chúng, thì chúng ta là những kẻ dại. Nếu chúng ta để chúng chiếm vị trí của Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ trở thành những người bất trung. Nếu chúng ta quan tâm đến chúng quá mức, thì chúng ta sẽ trở nên người tham lam. Nếu chúng ta sẵn sàng chà đạp người khác để có được của cải, chúng ta sẽ trở nên những kẻ đàn áp mà vương quốc Đức Chúa Trời chống cự.

Vậy làm thế nào để chúng ta xác định đâu là sự quan tâm đến của cải cách xứng hợp và không xứng hợp? Chúa Giê-xu đã trả lời rằng, “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm vương quốc Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, thì Ngài sẽ ban cho các con mọi điều ấy nữa” (Mat 6:33). Chúng ta phải ưu tiên việc quan trọng hơn. Dù chúng ta rất dễ tự lừa dối mình, nhưng câu hỏi này có thể giúp chúng ta nhìn nhận cách cẩn thận của cải đang dẫn chúng ta về đâu và tấm lòng của chúng ta như thế nào.

“Đừng xét đoán ai để các con khỏi bị xét đoán” (Ma-thi-ơ 7:1-5)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Chúa Giê-xu kêu gọi chúng ta ý thức về thực trạng của chính mình. Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được thái độ chỉ trích hay đoán xét người khác:

Đừng xét đoán ai để các con khỏi bị xét đoán. Vì các con xét đoán người ta thể nào thì họ cũng xét đoán các con thể ấy, các con lường cho người ta mực nào thì họ cũng sẽ lường cho các con mực ấy. Sao con thấy cái dằm trong mắt anh em, mà lại không thấy cây đà trong mắt mình? Sao con có thể bảo anh em: ‘Để tôi lấy cái dằm khỏi mắt anh,’ trong lúc cây đà vẫn còn nằm trong mắt mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Trước hết hãy lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái dằm khỏi mắt anh em được. (Mat 7:1-5)

Điều này dường như sẽ tạo nên nan đề tại nơi làm việc. Để công việc được thành công, chúng ta thường phụ thuộc vào việc đánh giá tính cách và năng lực của người khác. Người làm chủ phải lượng giá cấp dưới của mình, và trong một số tổ chức thì việc lượng giá là theo chiều ngược lại. Chúng ta luôn phải quyết định chúng ta sẽ tin tưởng ai, chúng ta sẽ cùng làm việc với ai, chúng ta sẽ tuyển nhân viên nào, và tổ chức nào phù hợp cho chúng ta. Nhưng trong câu 5, từ “kẻ đạo đức giả” đi kèm với lời khiển trách, “trước hết hãy lấy cây đà khỏi mắt mình đi,” cho thấy Chúa Giê-xu nói đến việc xét đoán sai lầm, không cần thiết. Ngài không chống lại việc đánh giá cách trung thực. Vấn đề ở đây là chúng ta thường xuyên đánh giá, nhận xét người khác mà không biết. Suy nghĩ của chúng ta về đồng nghiệp thường bị những định kiến làm nghiêng lệch khác với thực tế. Đôi khi chúng ta chỉ chú ý đến những nhược điểm của người khác để cảm thấy mình tốt hơn họ. Những lúc khác chúng ta tự biện hộ khi không hạ mình phục vụ người khác. Cũng có thể là do chúng ta không có thì giờ hay không thật sự muốn tìm hiểu thông tin chính xác, vì việc đó khó thực hiện hơn chỉ là ghi nhớ những cảm nhận cách ngẫu nhiên. Tự bản thân chúng ta không thể khắc phục xu hướng nhận xét sai lầm về người khác. Đây là lý do quan trọng cần có những hệ thống lượng giá nhất quán dựa trên thông tin chính xác tại nơi làm việc. Hệ thống khen thưởng dựa trên năng lực đòi hỏi người quản lý phải thu thập những chứng cớ cụ thể về khả năng của nhân viên, trao đổi với nhân viên từ những khía cạnh khác nhau cũng như nhìn nhận những thành kiến thường gặp phải. Ở mức độ cá nhân, giữa hai người đồng cấp, khi nhận thấy bản thân bắt đầu có những nhận xét không tốt về người khác, chúng ta vẫn có thể giữ sự khách quan bằng cách tự hỏi chính mình như sau, “Vai trò của tôi là gì trong vấn đề này? Bằng cớ nào dẫn tôi đến kết luận này? Nhận xét này có lợi gì cho cá nhân tôi? Người đó sẽ nói gì khi nghe được lời nhận xét này?” Có lẽ cách tốt nhất để chúng ta loại bỏ cây đà trong mắt mình là trực tiếp đến gặp người đó để xem họ phản ứng ra sao với nhận định của chúng ta.[1]

Nguyên Tắc Vàng (Ma-thi-ơ 7:12)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

“Vậy thì, bất cứ điều gì các con muốn người ta làm cho mình, hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri” (Mat 7:12). Điều này đem chúng ta quay lại với sự công chính, để chỉnh đốn và duy trì cách đúng đắn những mối liên hệ trong công việc lẫn trong những lãnh vực khác. Nếu chúng ta chỉ có đủ thì giờ để trả lời một câu hỏi duy nhất trước khi đưa ra quyết định hành động, thì câu hỏi tốt nhất là, “phải chăng đây là điều tôi muốn người khác làm cho tôi?”

LẠY CHÚA, XIN ĐOÁI THƯƠNG (MA-THI-Ơ 8-9)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Từ chương 5 cho đến chương 7, chúng ta được Chúa Giê-xu giảng dạy về việc nước thiên đàng đang đến trên đất này. Đến chương 8 và 9, chúng ta thấy Ngài bày tỏ vương quốc ấy qua những việc làm đầy lòng nhân từ và thương xót. Ngài chữa lành cho người phong hủi bị xã hội xa lánh (Mat 8:1-4), Ngài thương xót viên sĩ quan của quân đội Rô-ma đang chiếm cứ đất nước Do Thái (Mat 8:5-20), và Ngài cũng giải phóng cho những người bị quỷ ám đang phải chịu nhiều đau khổ (Mat 8:28-9:1). Trong những tình huống trên, lòng thương xót của Chúa Giê-xu đã khiến Ngài hành động nhằm phục hồi tạo vật của Đức Chúa Trời. Những người tin Chúa Giê-xu cũng có thể bày tỏ lòng thương xót trong những cách thực tiễn tương tự.

Khi Chúa Giê-xu công bố nước thiên đàng đã đến gần, Ngài gọi những con người đi theo Ngài là “những người làm công” (Mat 9:37-38, BTTHĐ dịch là “thợ gặt”). Một số người trong chúng ta được dẫn dắt để thực hiện những công tác chữa lành thuộc thể lẫn tâm hồn tương tự như những gì Chúa Giê-xu đã làm ở đây. Một số khác được đặt trong những công việc như cung cấp thức ăn, nước uống, chỗ ở, phương tiện đi lại, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thực thi pháp luật, an toàn xã hội hay cải tổ các cơ quan thẩm quyền... Còn một số khác được dẫn dắt để bước vào những lãnh vực đầy sáng tạo như nghệ thuật, khởi nghiệp kinh doanh, thiết kế, thời trang, nghiên cứu và phát triển. Tất cả cho thấy chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của một Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo (Sáng 1). Tương tự, công việc của Chúa Giê-xu là nghề thợ mộc cho đến khi Ngài ba mươi tuổi. Dù Chúa Giê-xu dành nhiều thời gian để thi hành công tác chữa lành, nhưng hầu hết mọi người khi nghĩ về Chúa Giê-xu thì thường xem Ngài là một người giảng đạo hơn là một vị bác sĩ. Chúa Giê-xu không hề tách biệt giữa khía cạnh trần tục hay thiêng liêng, giữa thuộc thể hay thuộc linh khi Ngài công bố về vương quốc Đức Chúa Trời.

NGƯỜI LÀM VIỆC ĐÁNG ĐƯỢC THỨC ĂN (MA-THI-Ơ 10)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Trong chương 10, Chúa Giê-xu sai những môn đồ của mình ra đi công bố nước thiên đàng đang đến gần và bày tỏ điều đó qua những việc làm bày tỏ lòng nhân từ và thương xót. Ngài căn dặn họ không nên chuẩn bị cho những nhu cầu của mình (Mat 10:9-10); nhưng họ sẽ phải dựa vào lòng rộng rãi của những người khác. Chúa Giê-xu cho biết Tin Lành không phải là một món hàng để mua bán, “các con đã nhận không, thì hãy cho không” (Mat 10:8).

Bài học ở đây là việc kiếm tiền và suy tính về tài chính không phải là xấu, mà thật ra, Chúa chu cấp cho chúng ta qua việc làm của chúng ta, bởi vì “người làm việc đáng được thức ăn” (Mat 10:10). Nhưng lời cảnh báo ở đây là đừng để việc kiếm tiền trở thành mục tiêu chính trong công việc. Là những người làm việc dưới quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong vương quốc mới của Ngài, mối quan tâm chính của chúng ta phải là giá trị của công việc, chứ không phải là mức lương. Những sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu ở đây có hàm ý nhắc nhở phải đặt Đức Chúa Trời là ưu tiên hàng đầu trong tấm lòng của chúng ta (tham khảo Gia 4:13-16). Dù người ký tên trả lương cho chúng ta là ai thì họ đều là phương cách mà Đức Chúa Trời dùng để chu cấp cho chúng ta.

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ HAI VƯƠNG QUỐC (MA-THI-Ơ 11-17)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Khi đọc qua sách Tin Lành Ma-thi-ơ, chúng ta thấy sứ điệp và những việc làm của Chúa Giê-xu ngày càng bị chống đối nhiều hơn. Sự chống đối đã lên tới đỉnh điểm trong Ma-thi-ơ 12:14 khi những lãnh đạo tôn giáo quyết định ngăn chặn Chúa Giê-xu bằng mọi giá, thậm chí nếu cần thì giết Ngài. Điều này báo trước hồi kết: Chúa Giê-xu sẽ bị đóng đinh tại Giê-ru-sa-lem. Dẫu biết điều đang chờ đợi mình, Chúa Giê-xu vẫn nói cùng các môn đồ rằng:

“Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho các ngươi được an nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta thì linh hồn các ngươi sẽ được an nghỉ. Vì ách Ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng.” (Mat 11:28-30)

Nếu chúng ta làm việc dưới ách của Chúa, chúng ta sẽ tìm được sự thỏa nguyện cho chính mình và trải nghiệm mối liên hệ tốt đẹp với Đức Chúa Trời và với mọi người xung quanh.[1] Trong vườn Ê-đen, khi Đức Chúa Trời giao công việc cho A-đam, công việc dễ dàng và nhẹ nhàng khi ở dưới thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Nhưng khi con người bắt đầu chống lại Đấng đã tạo dựng nên mình, thì tính chất công việc của con người trở nên nặng nhọc với gai góc và cây tật lê (Sáng 3).
Chúa Giê-xu mời gọi chúng ta đến làm việc dưới ách của Ngài với lời hứa rằng chúng ta sẽ tìm được sự yên nghỉ cho linh hồn của mình.[2]

LÀM VIỆC TRONG NGÀY SA-BÁT (MA-THI-Ơ 12:1-8)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Một trong những lãnh vực nảy sinh sự xung đột giữa Chúa Giê-xu và những người chống đối Ngài là việc giữ ngày Sa-bát. Trong phân đoạn này, Chúa Giê-xu đã bị những lãnh đạo tôn giáo lên án vì các môn đồ của Ngài ngắt bông lúa mì trong ngày Sa-bát. Người Pha-ri-si xem việc ngắt bông lúa mì là thu hoạch vụ mùa, đây là một hình thức công việc. Làm việc trong ngày Sa-bát là điều cấm. Chúa Giêxu đã phủ nhận cách giải thích cũng như động cơ của người Pha-ri-si trong vấn đề này. Ngài lập luận việc ngắt bông lúa mì để giải quyết nhu cầu lương thực không hề phạm luật ngày Sa-bát, bởi vì cả vua Đa-vít và các thầy tế lễ trong đền thờ cũng đã làm như vậy mà không bị Đức Chúa Trời quở trách (Mat 12:3-5, 1 Sa 21:1-6). Hơn thế nữa, động cơ áp dụng luật pháp Môi-se phải là lòng nhân từ và thương xót (Mat 12:6). Trong Mi-chê 6:6-8, Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài xem lòng nhân từ và thương xót quan trọng hơn của tế lễ. Trong trường hợp nầy điều đó có nghĩa việc cho phép người đang đói ngắt bông lúa mì để ăn là quan trọng hơn yêu cầu tuân thủ những luật lệ ngày Sa-bát. Ngày nghỉ trong tuần là món quà của Đức Chúa Trời và cũng là lời hứa của Ngài: chúng ta không cần liên tục làm việc mới có thể đáp ứng đủ những nhu cầu của đời sống. Do đó việc giúp đỡ, tiếp trợ những người thiếu thốn trong ngày Sa-bát không phải là tội.[1]

NHỮNG ẨN DỤ VỀ NƯỚC THIÊN ĐÀNG (MA-THI-Ơ 13)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Khi đối mặt với sự chống đối, Chúa Giê-xu đã thay đổi phương cách giảng dạy bắt đầu từ chương 13. Thay vì công bố rõ ràng về nước thiên đàng, Ngài bắt đầu dạy dỗ bằng những ẩn dụ. Với những người tin Chúa Giê-xu, các ẩn dụ đầy ý nghĩa; nhưng với những người không tin thì các ẩn dụ không thể hiểu được. Phần lớn những câu chuyện ngắn này đều nói về những người làm việc: người gieo giống trên cánh đồng (Mat 13:3-9); người phụ nữ trộn men vào bột bánh mì (Mat 13:33); người đi tìm kho báu (Mat 13:44); người buôn ngọc trai (Mat 13:45-46); người đánh cá (Mat 13:47-50); và người chủ nhà (Mat 13:52). Đa số các câu chuyện không nhằm mục đích mô tả công việc. Chúa Giê-xu không có ý dạy chúng ta cách gieo giống trên đồng, cách nướng bánh mì, hay nên đầu tư vào những loại mặt hàng nào. Nhưng qua tình tiết của các câu chuyện này, Chúa Giê-xu đã dùng những điều cụ thể và việc làm của con người để truyền đạt những đặc điểm trong vương quốc Đức Chúa Trời. Công việc của chúng ta luôn hàm chứa ý nghĩa, thậm chí có thể dùng để minh họa cho những thực tại đời đời. Điều này nhắc chúng ta rằng con người cùng mọi vật xung quanh đều là tạo vật của Đức Chúa Trời và tất cả sẽ luôn là một phần trong vương quốc của Ngài.

NỘP THUẾ (MA-THI-Ơ 17:24-27, 22:15-22)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Trong thời của Chúa Giê-xu, người Do Thái vừa đóng thuế đền thờ lại phải đóng thuế cho chính quyền Rô-ma đang cai trị họ. Ma-thi-ơ đã ghi chép hai sự kiện cho thấy quan điểm của Chúa Giê-xu về vấn đề nộp thuế. Sự kiện thứ nhất được ghi lại trong Ma-thi-ơ 17:24-27, khi những người thâu thuế đền thờ đến hỏi Phi-e-rơ rằng Chúa Giê-xu có nộp thuế không. Biết được điều này, Chúa Giê-xu đã hỏi Phi-e-rơ rằng, “Si-môn ơi, con nghĩ sao? Các vua thế gian bắt ai làm sưu, đóng thuế? Các con trai mình hay người ngoài?” Phi-e-rơ đã trả lời, “người ngoài.” Chúa Giê-xu tiếp lời, “Vậy thì các con trai được miễn. Nhưng để khỏi tạo cớ vấp phạm cho họ, con hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào mắc câu đầu tiên, mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc. Hãy lấy đồng bạc ấy đóng thuế cho Ta với con!”

Sự kiện thứ hai được ghi lại trong Ma-thi-ơ 22:15-22, khi những người thâu thuế cho đế quốc Rô-ma đã đến tìm Chúa Giê-xu. Trong sự việc này, những người Pha-ri-si và những người thuộc phe Hê-rốt đã bàn mưu để gài bẫy Chúa Giê-xu khi hỏi Ngài rằng, “Việc nộp thuế cho Sê-sa có đúng luật hay không?” Chúa Giê-xu biết rõ mưu kế trong lòng họ, nên Ngài đã đáp lại bằng một câu hỏi sắt bén, “Hỡi những kẻ đạo đức giả, tại sao các ngươi thử Ta? Hãy cho Ta xem một đồng tiền nộp thuế.” Khi họ đưa cho Ngài xem một đơ-ni-ê, Chúa Giê-xu đã hỏi rằng, “Hình và hiệu nầy của ai?” Họ đáp, “Của Sê-sa.” Và Chúa Giê-xu đã khép lại cuộc đối thoại này với những lời như sau, “Vậy hãy trả cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và hãy trả cho Đức Chúa Trời những gì của Đức Chúa Trời.”

Địa vị thật của chúng ta là công dân trong vương quốc của Đức Chúa Trời, vì vậy chúng ta phải tận hiến mọi nguồn lực cho những mục đích của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải trả cho các bậc cầm quyền trong thế giới này những gì thuộc về họ. Nộp thuế cho những phúc lợi mà mình được hưởng là một trong những nghĩa vụ căn bản mà bất cứ công dân trong mọi xã hội đều phải thực hiện. Những phúc lợi đó bao gồm các dịch vụ công ích đáp ứng cho những tình huống khẩn cấp như: cảnh sát, lính chữa lửa, nhân viên cứu thương, v.v…, cũng như những hỗ trợ pháp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho mọi người hay quỹ an sinh xã hội dành cho người nghèo, người cao tuổi cùng với những người khác có nhu cầu. Đế quốc Rô-ma không định hướng theo phương châm đem lại ích lợi cho mọi người, tuy nhiên chính quyền vẫn quan tâm đến vấn đề đường xá, cấp thoát nước, giữ gìn an ninh và đôi lúc cũng có cứu trợ người nghèo. Không phải lúc nào chúng ta cũng đồng ý với hình thức và quy mô của những loại phúc lợi mà chính quyền cung ứng, nhưng chúng ta biết phần thuế mà chúng ta đóng góp là thiết yếu trong việc đem lại sự an toàn cho cá nhân cũng như góp phần giúp đỡ cho những người có nhu cầu.

Mặc dù không phải mọi hoạt động của chính phủ đều đúng với những mục đích của Đức Chúa Trời, nhưng Chúa Giê-xu không kêu gọi chúng ta xem thường nghĩa vụ đóng thuế cho đất nước mà chúng ta đang sinh sống (Rô 13:1-10; 1 Tê 4:11-12). Tại đây, Chúa Giê-xu dạy chúng ta không nên trốn tránh nghĩa vụ đóng thuế. Nếu có thể được, chúng ta cần “hết sức sống hòa thuận với mọi người” (Rô 12:18; Hê 12:14; tham khảo 1 Phi 2:12), tuy nhiên, chúng ta cũng phải sống như ánh sáng soi trong nơi tối tăm (Mat 5:13-16; Phi 2:15). Nếu chúng ta làm việc nhưng lại từ chối đóng thuế thì điều đó không làm cho nước Đức Chúa Trời được vinh hiển, cũng không đem lại sự hòa thuận hay giúp đưa người khác đến với Chúa.

Điều này có rất nhiều áp dụng trực tiếp liên quan đến công việc. Ngoài vấn đề thuế, nơi làm việc luôn nằm dưới thẩm quyền và luật pháp của nhà nước. Có thể một số chính phủ có những luật lệ và tập quán đi ngược lại với những mục đích và đạo đức Cơ Đốc Giáo, giống như chính quyền Rô-ma trong thế kỷ thứ nhất. Cơ quan chính phủ hay nhân viên nhà nước có thể đòi chúng ta phải hối lộ, định cho chúng ta những nguyên tắc và luật lệ trái đạo lý, hà hiếp và đối xử bất công, cũng như xử dụng tiền thuế cho những mục đích đi ngược lại ý muốn của Đức Chúa Trời. Về việc nộp thuế, Chúa Giê-xu không đòi hỏi chúng ta phải chống trả lại những sai trật như vậy. Chúng ta giống như những điệp viên hay mật vụ hoạt động trong lãnh thổ của kẻ thù. Chúng ta không nên để mình bị sa lầy vào những cuộc chiến vặt vãnh. Nhưng chúng ta cần có chiến thuật hẳn hoi, hãy luôn tự hỏi bản thân, điều gì là hữu hiệu nhất giúp mở rộng vương quốc của Đức Chúa Trời trên đất này. Tất nhiên, chúng ta không bao giờ dự phần trong những lề thói sai trật với mục đích trục lợi cho bản thân.[1]

SỐNG TRONG VƯƠNG QUỐC MỚI (MA-THI-Ơ 18-25)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Từ chương 18 cho đến chương 25 của sách Tin Lành Ma-thi-ơ, Chúa Giê-xu đã đưa ra những hình ảnh cụ thể về đời sống trong vương quốc Đức Chúa Trời. Rất nhiều hình ảnh trong số đó có liên quan trực tiếp đến công việc.

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT (MA-THI-Ơ 18:15-35)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Trong mọi nơi làm việc đều xảy ra xung đột. Trong phân đoạn này, Chúa Giêxu đã trình bày một khuôn mẫu về cách giải quyết xung đột. Ngài không hề nói rằng, “Hãy trả đũa!” hay “Tấn công lại!” Nhưng Chúa Giê-xu đã thiết lập một tiến trình giải quyết xung đột bắt đầu với việc tìm kiếm cơ hội giải hòa giữa hai người với nhau. Sự nhu mì trong các phước lành có nghĩa là gạt sang một bên việc biện hộ cho chính mình để có thể cư xử đúng mực và thật lòng với người đã làm tổn thương chúng ta, cũng như mở lòng để tiếp thu quan điểm của họ (Mat 18:15). Điều này không có nghĩa chúng ta cứ phải chịu đựng sự bất công, nhưng chúng ta cần xét đến khả năng quan điểm của chúng ta không hẳn được mọi người chấp nhận. Nếu điều này không giải quyết được vấn đề, thì ở mức độ thứ hai, chúng ta đề nghị một người khác có quen biết cả chúng ta và người xung đột với chúng ta cùng đến gặp và giải quyết vấn đề. Nếu vẫn không giải quyết được, thì chúng ta cần đem vấn đề này trình lên cấp lãnh đạo để có phán quyết công bằng (trong Mathi-ơ 18:16 nêu cụ thể là xung đột xảy ra trong Hội Thánh). Nếu phán quyết cuối cùng vẫn không giải quyết được vấn đề, người có lỗi vẫn không chấp nhận phán quyết đó thì họ sẽ bị loại ra khỏi cộng đồng (Mat 18:17).

Mặc dù Chúa Giê-xu đang nói đến xung đột nảy sinh với “một thành viên khác trong Hội Thánh” (Mat 18:15), nhưng phương pháp của Ngài chính là tiền thân của tiến trình giải quyết xung đột hiện đang được áp dụng tại nơi làm việc. Thậm chí trong những môi trường làm việc tốt nhất thì xung đột vẫn xảy ra. Khi xảy ra xung đột thì cách tốt nhất để giải quyết là hai người trực tiếp giải quyết với nhau, đừng nên lôi kéo thêm người khác. Thay vì phơi bày xung đột cá nhân trước mọi người, hãy giải quyết cách kín đáo với người mà chúng ta đang xung đột. Trong thời đại thông tin điện tử ngày nay, phương cách của Chúa Giê-xu lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chỉ cần thêm vài cái tên trong phần gửi kèm của thư điện tử (email) hay nhấn nút “hồi âm cho mọi người” là chúng ta có thể biến xung đột cá nhân thành một cuộc chiến tại nơi làm việc. Thậm chí nếu hai người có thể giữ bí mật và chỉ trao đổi với nhau qua thư điện tử cá nhân, thì sự hiểu lầm có thể càng tăng thêm vì thư điện tử là phương tiện truyền thông không thể diễn tả cảm xúc. Tốt nhất chúng ta nên áp dụng phương pháp của Chúa Giêxu theo đúng nghĩa đen, “nếu anh em con có lỗi với con, hãy gặp riêng và nói cho người ấy biết điều đó” (Mat 18:15).

Việc chỉ ra lỗi lầm của người khác bao giờ cũng có hai chiều. Chúng ta cũng phải mở lòng mình để lắng nghe người khác chỉ ra những sai trật bản thân. Trong những câu Kinh Thánh trên, Chúa Giê-xu lặp lại từ “nghe” đến ba lần cho thấy đây là yếu tố quan trọng. Phương cách giải quyết xung đột trong hiện tại thường tập trung vào việc khiến cả hai bên chịu ngồi lại để trình bày quan điểm từ cả hai phía, mà vẫn được giữ quyền không đồng ý với nhau. Thông thường, việc chịu khó lắng nghe sẽ giúp chúng ta tìm được giải pháp chung. Nếu phương cách này không đem lại kết quả, thì có lẽ chúng ta nên nhờ đến những người có đủ kỹ năng và thẩm quyền giải quyết.

NGƯỜI THANH NIÊN GIÀU CÓ (MA-THI-Ơ 19:16-30)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Vấn đề tiền bạc đã được đề cập trong Ma-thi-ơ 6, được tiếp tục nhắc đến trong câu chuyện về người thanh niên giàu có tại đây. Người thanh niên giàu có tìm đến Chúa Giê-xu và hỏi, “tôi phải làm điều lành nào để được sự sống đời đời?” Chúa Giê-xu bảo anh phải giữ các điều răn; anh đáp rằng mình đã giữ hết những điều đó từ khi còn nhỏ. Anh ta hỏi tiếp, “tôi còn thiếu điều gì không?” Đây là chi tiết chỉ có trong phần tường thuật của sách Ma-thi-ơ. Chàng thanh niên cho thấy anh có một sự hiểu biết sâu sắc khi đặt câu hỏi này. Kể cả khi chúng ta có thể làm mọi việc tốt, đúng và chính trực thì tận bên trong chúng ta vẫn cảm thấy còn điều gì đó chưa trọn vẹn. Chúa Giê-xu đáp rằng, “hãy bán những gì mình có và phân phát cho người nghèo thì ngươi sẽ có kho báu ở trên trời; rồi hãy đến theo Ta” (Mat 19:21).

Trong cả bốn sách Tin Lành Chúa Giê-xu không hề kêu gọi những người nghe Ngài giảng phải đi bán hết tài sản của mình. Không phải ai cũng mang gánh nặng tài sản giống chàng thanh niên này. Trong trường hợp này, thách thức Chúa Giê-xu đặt ra cho chàng thanh niên rất thực tế bởi vì anh ta bị ràng buộc bởi tài sản của mình (Mat 19:22). Đức Chúa Trời biết rõ những điều trong tấm lòng chúng ta và Ngài biết chúng ta cần từ bỏ điều gì để có thể phục vụ Ngài.

Phải chăng kho báu của chúng ta là việc làm, năng lực, kỹ năng và tiền lương hưu? Tất cả là những món quà mà Chúa ban cho chúng ta; chúng đều tốt lành trong vai trò Đức Chúa Trời sắp đặt. Nhưng tất cả đều không quan trọng nếu so sánh với việc tìm kiếm nước Đức Chúa Trời (Mat 6:33) và có mối liên hệ đúng đắn với Ngài cũng như với những người xung quanh. Chúng ta chỉ nên xem của cải và công việc như một phương tiện trong đời sống; nếu không chúng ta sẽ giống như chàng thanh niên giàu có này, mà ngoảnh mặt tránh xa Chúa cách buồn bã.[1]

NGƯỜI LÀM CÔNG TRONG VƯỜN NHO (MA-THI-Ơ 20:1-16)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents
CÁCH TRẢ LƯƠNG CÔNG BẰNG CỦA CÔNG TY TORO

Ken Melrose đã mô tả tầm quan trọng của việc trả lương công bằng ở công ty Toro:

Vào năm 1981, khi tôi được chọn vào chức vụ CEO, công ty Toro đang trên bờ vực phá sản. Tôi cảm biết đây là sự kêu gọi của Đức Chúa Trời cho tôi để xây dựng lại môi trường làm việc dựa trên khái niệm người lãnh đạo phải là người phục vụ. Tôi nhận thấy rõ sức mạnh thực sự của công ty là ở những nhân viên “bình thường”.

Chúng tôi đã rất cẩn thận không để khoảng cách lương bổng giữa các nhân viên trong công ty quá cách biệt vì điều đó dễ dẫn đến sự bất mãn. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến chương trình bán cổ phiếu đã được trợ giá của công ty cho các nhân viên, tránh không để nó đi quá giới hạn mà tạo nên khoảng cách giàu-nghèo giữa các nhân viên.

Chúng tôi cũng đặc biệt quan tâm đến những nhân viên có mức lương thấp. Chúng tôi muốn mọi người đều có cùng một suy nghĩ đó là họ cùng chung một đội và đều có phần trong sự thành công của công ty. Để khởi động điều này chúng tôi đã cho mỗi nhân viên một cổ phiếu của Toro, và từ đó xây dựng chương trình 401k để hàng năm thưởng cổ phiếu cho tất cả nhân viên của công ty. Mặc dù những quản lý cấp cao sở hữu nhiều cổ phiếu hơn những người cấp dưới, nhưng mọi người đều thật sự là “người sở hữu” công ty. Sau đó chúng tôi đã thiết kế bảng tên cho nhân viên trên đó có tên của mỗi người và kèm theo là dòng chữ “người sở hữu”.

Ngoài ra để cụ thể hóa việc quan tâm các nhân viên, chúng tôi đã rất cố gắng để giữ nguyên số lượng nhân viên cũng như mức lương của họ những lúc công ty gặp hoàn cảnh khó khăn. Những năm công ty chúng tôi gặp khó khăn thường là do thời tiết. Việc sa thải nhân viên hay cắt giảm tiền lương vì lý do thời tiết là không hợp lý bởi vì năm sau thời thiết sẽ trở lại bình thường. Nếu chúng tôi buộc phải cắt giảm tiền lương, chúng tôi sẽ bắt đầu trước với các lãnh đạo, sau đến là những người quản lý (ví dụ, trước tiên là cắt thưởng, sau mới đến giảm lương và cứ như thế…). Kế hoạch của chúng tôi là cố gắng hết sức để bảo vệ những nhân viên có mức lương thấp. Sau hai năm biến động thời tiết nhưng vẫn không hề có sự cắt giảm nào, các nhân viên đã trở nên những người tin Chúa.

Điều này phản ánh triết lý của chúng tôi, mỗi nhân viên đều quan trọng và trách nhiệm của người quản lý là cố gắng bảo vệ mức thu nhập của người lao động.

Ví dụ này đã minh họa cho câu chuyện về những người làm công trong vườn nho trong Ma-thi-ơ 20:1-16.

Câu chuyện này chỉ có trong sách Tin Lành Ma-thi-ơ. Người chủ vườn nho đã thuê các nhân công làm việc vào những thời điểm khác nhau trong ngày. Những người được thuê lúc 6 giờ sáng phải làm việc trọn một ngày. Những người được thuê vào lúc 5 giờ chiều chỉ phải làm việc trong một giờ. Nhưng người chủ lại trả công cho mọi người bằng nhau là một đơ-ni-ê. Người chủ muốn mọi người đều biết họ được trả công như nhau mặc dù thời gian làm việc là khác nhau. Không ngạc nhiên khi những người được thuê từ sáng sớm đã than phiền dù họ làm việc nhiều hơn nhưng cũng chỉ được trả công như những người vừa mới làm lúc cuối ngày. “Nhưng chủ trả lời với… bọn họ rằng, ‘Bạn ơi, tôi không đối xử bất công với bạn đâu! Chẳng phải bạn đã thỏa thuận với tôi một đơ-ni-ê đó sao? …Chẳng lẽ tôi không được phép sử dụng những gì tôi có theo ý tôi sao? Hay là bạn thấy tôi rộng lượng mà ganh tị?’ Như vậy, người cuối sẽ nên đầu, còn người đầu sẽ nên cuối” (Mat 20:13, 15-16).

Khác với câu chuyện về người gieo giống trong Mat 13:3-9; 18-23, Chúa Giêxu không hề đưa ra lời giải thích rõ ràng cho câu chuyện này. Do đó các học giả đã đưa ra rất nhiều cách giải nghĩa khác nhau. Bởi vì những nhân vật trong câu chuyện là những người làm công và người quản lý (“người chủ”), do đó một số người cho rằng câu chuyện có hàm ý đề cập đến công việc. Nếu hiểu câu chuyện theo cách giải thích này thì dường như hàm ý của câu chuyện là: đừng so sánh mức lương của bạn với người khác hay đừng bất mãn nếu người khác được trả lương cao hơn hoặc không phải làm việc nhiều như bạn dù công việc là giống nhau. Đây có thể xem là những thói quen tốt mà người làm công nên có. Nếu mức lương của bạn khá tốt, vì sao lại buồn bực chỉ vì người khác được trả lương cao hơn? Tuy nhiên, cách giải thích này cũng có thể được dùng để bào chữa cho những sai trật trong việc đối xử bất công hay bóc lột người lao động. Một số người lao động bị đối xử bất công và trả lương thấp hơn vì những lý do như: kỳ thị chủng tộc, giới tính hoặc vì họ là người nhập cư. Có phải Chúa Giê-xu muốn dạy chúng ta phải thỏa lòng khi chính mình hay những người cùng làm việc bị đối xử bất công hay không?

Hơn thế nữa, việc trả lương đồng đều mà không xét đến khối lượng công việc phải làm là điều vô lý trong kinh doanh. Chẳng phải điều này sẽ dẫn đến việc ngày hôm sau, mọi công nhân đều chỉ hiện diện lúc 5 giờ chiều và làm việc đến 6 giờ rồi nghỉ? Còn về việc công khai tiền lương của mọi người thì sao? Có thể điều này sẽ giúp tăng tính minh bạch của việc trả lương. Nhưng liệu việc cho những người làm việc nhiều hơn biết họ được trả lương như những người làm việc ít hơn là một ý kiến hay? Có lẽ điều này sẽ làm nảy sinh xung đột. Nếu hiểu câu chuyện theo nghĩa đen và áp dụng cách trả lương không theo năng lực thì dường như đó không phải là bí quyết để thành công trong kinh doanh. Phải chăng Chúa Giê-xu ủng hộ cho cách trả lương này?

Có lẽ câu chuyện ở đây không nói về công việc. Câu chuyện này là một trong các ví dụ đầy kinh ngạc của Chúa Giê-xu cho biết ai thuộc về vương quốc Đức Chúa Trời. Trong Mat 19:14, Chúa Giê-xu cho biết vương quốc Đức Chúa Trời thuộc về những con trẻ, là những người không thể tự chủ bản thân. Ngài cho biết vương quốc này cũng không dành cho người giàu có, hay ít nhất là đa số người giàu (Mat 19:23-26). Nhưng vương quốc Đức Chúa Trời thuộc về những ai theo Ngài, cụ thể là những người từng trải sự mất mát, vì sẽ “có nhiều người đầu sẽ trở nên cuối, và người cuối sẽ trở nên đầu” (Mat 19:30). Tại đây, câu chuyện này cũng kết thúc với cùng những từ ngữ như vậy,
“người cuối sẽ nên đầu, còn người đầu sẽ nên cuối” (Mat 20:16). Mạch ý tưởng này cho thấy câu chuyện ở đây tiếp tục với chủ đề những người thuộc về nước thiên đàng. Chúng ta không bước vào nước Đức Chúa Trời bằng việc làm hay công đức của bản thân, nhưng chỉ nhờ lòng rộng lượng của Ngài.

Một khi chúng ta hiểu câu chuyện ở đây nói về lòng rộng lượng của Đức Chúa Trời trong nước thiên đàng, thì chúng ta vẫn có thể thắc mắc “…nhưng áp dụng điều này vào công việc ra sao?” Nếu các bạn đang được trả lương cách xứng đáng, thì lời khuyên về việc thỏa lòng vẫn có thể được áp dụng ở đây. Nếu một đồng nghiệp bất ngờ được ưu đãi hay nhận phúc lợi nào đó, thì chúng ta chung vui với họ vẫn tốt hơn là có thái độ ganh tị, than phiền. Tuy nhiên, phần áp dụng ở đây có tầm mức rộng lớn hơn. Người chủ trong câu chuyện này trả lương cho mỗi người đủ để họ có thể chăm lo cho gia đình của mình.[1] Bối cảnh xã hội trong thời của Chúa Giê-xu là có nhiều người nông dân nghèo đã buộc phải bán đất bởi vì họ nợ tiền thuế của chính quyền Rô-ma. Việc làm này vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời là trong vòng dân Y-sơ-ra-ên không ai được sở hữu phần đất đai là sản nghiệp của người khác (Lê 25:8-13). Tất nhiên, chính quyền Rô-ma không quan tâm đến điều này. Hậu quả là có rất nhiều người thất nghiệp thường tụ tập mỗi buổi sáng, hy vọng rằng sẽ có ai đó thuê họ làm việc. Trong thời bấy giờ, nhóm người này là những người bị tước đoạt đất đai, thất nghiệp và không có việc làm. Những người đến 5 giờ chiều mà chưa tìm được việc làm sẽ rất khó kiếm đủ tiền để mua thức ăn cho gia đình của mình trong ngày hôm đó. Nhưng ở đây, người chủ vườn nho đã trả công cho họ bằng lương của người đã làm việc trọn một ngày.

Nếu người chủ vườn nho ở đây đại diện cho Đức Chúa Trời, thì đây là một thông điệp vô cùng mạnh mẽ cho biết trong vương quốc của Đức Chúa Trời, những ai bị tước đoạt và thất nghiệp sẽ tìm được công việc để đáp ứng những nhu cầu của bản thân và của những người lệ thuộc vào mình. Chúng ta đã nghe Chúa Giê-xu nói rằng, “người làm việc đáng được thức ăn” (Mat 10:10). Điều này không đồng nghĩa với việc những người chủ trên đất này có trách nhiệm phải đáp ứng mọi nhu cầu của người làm công cho mình. Những người chủ trên đất này không phải là Đức Chúa Trời. Nhưng câu chuyện này là một thông điệp đem lại hy vọng cho những ai đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm một việc làm thích hợp. Trong vương quốc của Đức Chúa Trời, tất cả chúng ta đều sẽ tìm được công việc để đáp ứng cho những nhu cầu của mình. Câu chuyện này cũng là một lời thách thức đối với những ai đang có địa vị và thẩm quyền trong việc định hình những cơ chế việc làm trong xã hội. Cơ Đốc Nhân có thể làm gì để mở rộng khía cạnh này của vương quốc Đức Chúa Trời ngay trong hiện tại hay không?

LÃNH ĐẠO TRONG TINH THẦN TÔI TỚ (MA-THI-Ơ 20:20-28)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Mặc dù các môn đồ đã được nghe Chúa Giê-xu kể ẩn dụ về ân điển và lòng rộng lượng của Đức Chúa Trời, họ cũng nghe Chúa Giê-xu nhấn mạnh “người đầu sẽ nên cuối và người cuối sẽ lên đầu” đến hai lần, nhưng các môn đồ vẫn chưa hiểu ý chính của Chúa Giê-xu. Mẹ của Gia-cơ và Giăng đã đến xin Chúa Giê-xu ban cho hai con trai của bà những vị trí cao trọng nhất trong vương quốc của Ngài. Cả hai người đều có mặt tại đó và Chúa Giê-xu đã xoay qua họ mà hỏi rằng, “Các con có thể uống chén Ta sắp uống không?” Họ đáp rằng, “Thưa, có thể được.” Khi mười môn đồ khác nghe được chuyện này, họ rất tức giận. Chúa Giê-xu dùng cơ hội này để thách thức những quan niệm về địa vị của họ.

Các con biết các nhà cầm quyền của dân ngoại thống trị dân, còn những quan chức cao cấp thì dùng quyền lực mà cai trị. Nhưng giữa các con thì không phải vậy; trái lại, ai muốn làm lớn trong các con, thì phải làm đầy tớ, còn ai muốn đứng đầu, thì phải làm nô lệ cho các con; Ngay cả Con Người đã đến, không phải để được người ta phục vụ mình, nhưng để phục vụ người ta và phó mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. (Mat 20:25-28)

Người lãnh đạo chân chính là người phục vụ người khác. Điều này khác nhau tùy điều kiện và bối cảnh nơi làm việc. Nó không có nghĩa một CEO phải sắp lịch mỗi tháng để lau nhà, chùi nhà vệ sinh hay một người nhân viên có thể viện cớ rằng mình phải giúp đỡ người khác nên không làm tốt công việc của bản thân. Nhưng điều này có nghĩa là chúng ta làm mọi việc vì mục tiêu phục vụ khách hàng, đồng nghiệp, cổ đông và những người chịu ảnh hưởng từ công việc của chúng ta. Max De Pree là CEO lâu năm của hãng Herman Miller. Ông được vinh danh trong danh sách những doanh nhân, lãnh đạo thành công của Fortune Hall of Fame. Ông đã viết trong quyển sách “Lãnh Đạo Là Một Nghệ Thuật” của mình như sau: “Trách nhiệm trước nhất của người lãnh đạo là xác định tình hình thực tế. Và trách nhiệm sau cùng là nói lời cám ơn. Trong khoảng giữa hai điều đó, người lãnh đạo phải như một người đầy tớ, một con nợ. Đó là tất cả những gì mà một lãnh đạo giỏi cần có để thành công.”[1]

Đầy tớ là người biết tình trạng nghèo nàn thuộc linh của bản thân (Mat 5:3) và sử dụng quyền lực mình có dưới sự điều khiển của Chúa (Mat 5:5) nhằm duy trì những mối liên hệ cách đúng đắn. Người lãnh đạo trong tinh thần đầy tớ phải xin lỗi khi làm sai (Mat 5:4), phải thương xót khi người khác thất bại (Mat 5:7), phải làm cho người hòa thuận (Mat 5:9), sẵn sàng chịu đựng những lời chỉ trích vô cớ khi phục vụ Chúa (Mat 5:10) với tấm lòng trong sạch (Mat 5:8). Chúa Giê-xu đã làm gương cho chúng ta qua những công tác Ngài thi hành (Mat 20:28). Nếu chúng ta noi gương Chúa Giê-xu, thì mọi người sẽ biết chúng ta là môn đồ Đấng Christ.

LỜI NÓI VÀ VIỆC LÀM (MA-THI-Ơ 21:28-41)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Ẩn dụ về hai con trai trong Mat 21:28-32 kể về hai người anh em được cha sai làm việc trong vườn nho. Một người nói rằng sẽ đi nhưng lại không đi. Người kia thì nói với cha rằng sẽ không đi nhưng cuối cùng lại đi và làm việc cả ngày trong vườn nho. Sau đó, Chúa Giê-xu đã đặt câu hỏi “Trong hai con trai đó, người nào làm theo ý cha?” Câu trả lời là người con đã làm việc, mặc dù lúc đầu anh ta đã từ chối. Ẩn dụ này là phần tiếp theo của những câu chuyện về những người thật sự thuộc về vương quốc Đức Chúa Trời trong sách Ma-thi-ơ. Khi đám đông đang vây quanh lắng nghe, Chúa Giê-xu đã nói với những lãnh đạo tôn giáo rằng “người thu thuế và gái mại dâm sẽ được vào vương quốc Đức Chúa Trời trước các ngươi” (Mat 21:31).[1] Những người không có vẻ sùng đạo sẽ bước vào nước Đức Chúa Trời trước cả những lãnh đạo tôn giáo, bởi vì sau cùng họ là những người làm theo ý muốn của Chúa.

Trong công việc, điều này nhắc chúng ta rằng việc làm có ảnh hưởng nhiều hơn lời nói. Sứ mệnh của rất nhiều tổ chức khẳng định các mục tiêu quan trọng nhất của họ là: chăm sóc khách hàng, chất lượng sản phẩm, trung thực, chăm lo đời sống nhân viên và những điều tương tự. Tuy nhiên, những tổ chức như vậy lại có chất lượng, dịch vụ, sự trung thực và mối liên hệ với nhân viên rất kém. Ở mức độ cá nhân cũng vậy, nhiều người lập những kế hoạch “vĩ đại”, nhưng lại không thể triển khai thực hiện. Những tổ chức và cá nhân rơi vào tình trạng này có thể có ý tốt, nhưng họ không nhận ra mình không thể thực hiện những thứ đã bị thổi phồng. Nơi làm việc cần có cơ cấu triển khai mục tiêu và kế hoạch cách hiệu quả cũng như cách thức lượng giá phân minh để có được sự phản hồi thẳng thắn.

Tiếp theo là ẩn dụ về những người làm công gian ác (Mat 21:33-41) cũng diễn ra tại vườn nho. Chúa Giê-xu không có ý nói về việc điều hành vườn nho, nhưng là việc Ngài bị hắt hủi và bị giết bởi sự xúi giục của các lãnh đạo tôn giáo người Do Thái lúc bấy giờ (Mat 21:45). Câu 43 cho biết cách áp dụng điều này trong nơi làm việc ngày nay, “vương quốc Đức Chúa Trời sẽ bị cất khỏi các ngươi và ban cho một dân sẽ đem kết quả về cho vương quốc ấy.” Tất cả chúng ta đều được giao những trách nhiệm trong công việc của mình. Nếu chúng ta từ chối thực hiện trách nhiệm của mình trong sự vâng phục Đức Chúa Trời, nghĩa là chúng ta đang chống cự vương quốc của Ngài. Trong mọi việc, chúng ta cần phải trông mong mình sẽ được Chúa khen ngợi.

PHỤC VỤ CẤP TRÊN LẪN CẤP DƯỚI (MA-THI-Ơ 24:45-51)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Ẩn dụ này kể về một người nô lệ được chủ giao trách nhiệm quản lý toàn bộ nhà cửa. Công việc này bao gồm trách nhiệm cấp phát thức ăn cho những người nô lệ khác đúng giờ. Chúa Giê-xu phán, “Phước cho đầy tớ ấy, khi chủ đến thấy làm như vậy” (Mat 24:46). Người nô lệ đó sẽ được giao trách nhiệm lớn hơn. Mặc khác, Chúa Giê-xu cũng cảnh báo,

Nhưng nếu là đầy tớ gian ác, nó thầm nghĩ rằng: ‘Chủ ta chưa về ngay đâu;’ rồi bắt đầu đánh đập các bạn cùng làm đầy tớ như mình, và ăn uống với phường say rượu. Chủ sẽ đến trong ngày nó không ngờ, trong giờ nó không biết, trừng phạt nó nặng nề, và cho nó chịu chung số phận với những kẻ đạo đức giả ở nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. (Mat 24:48-51)

Trong môi trường làm việc ngày nay, có thể xem người nô lệ này như người quản lý chịu trách nhiệm điều hành những nhân viên khác. Lợi ích của người chủ chỉ được đảm bảo khi nhu cầu của các nhân viên được đáp ứng. Chúa Giê-xu dạy rằng, trách nhiệm của người lãnh đạo với tinh thần phục vụ là chăm lo nhu cầu của người cấp trên (người chủ) lẫn người cấp dưới (các đầy tớ). Không thể biện minh cho việc đối xử bất công với cấp dưới của mình vì lý do đảm bảo lợi ích cho cấp trên. Chúa Giê-xu đã mô tả hình phạt ghê rợn cho những ai chỉ biết quan tâm đến lợi ích riêng của bản thân (Mat 24:48-51).

ẨN DỤ VỀ CÁC TA-LÂNG (MA-THI-Ơ 25:14-30)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Một trong những ẩn dụ quan trọng của Chúa Giê-xu liên quan đến công việc được trình bày trong bối cảnh của việc đầu tư (Mat 25:14-30). Một người giàu có đã trao quyền quản lý tài sản của ông cho những người làm công của mình, giống như những nhà đầu tư ngày nay vẫn làm. Người chủ đã giao năm ta-lâng (một số tiền lớn) [1] cho người làm công thứ nhất, hai ta-lâng cho người thứ nhì và một ta-lâng cho người thứ ba. Hai người đầu tiên đã nhân đôi số tiền mình được giao bằng cách kinh doanh, nhưng người thứ ba lại đem chôn giấu số tiền mình có và không sinh lợi nhuận. Khi người chủ trở về, ông thưởng hai người làm công đã sử dụng số tiền được giao và sinh lợi, nhưng trừng phạt nặng nề người đã không làm gì cả.

Ý nghĩa của ẩn dụ này không chỉ nói về việc đầu tư tài chính. Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi người những tài năng khác nhau và Chúa muốn chúng ta sử dụng những tài năng đó để phục vụ Ngài. Việc cất giấu hay phớt lờ những tài năng Chúa ban là điều không thể chấp nhận. Giống như ba người làm công, mỗi người trong chúng ta có những tài năng ở các mức độ khác nhau. Đức Chúa Trời muốn chúng ta phục vụ tương xứng với những tài năng đã được Chúa ban. Người làm công được giao một ta-lâng không bị phạt vì người đó không làm lợi ra năm ta-lâng; nhưng bị phạt vì đã không làm gì với số vốn được giao. Tài năng Chúa ban cho chúng ta bao gồm những kỹ năng, khả năng, mối liên hệ, gia đình, địa vị xã hội, trình độ học vấn, kinh nghiệm từng trải và nhiều điều khác. Ý nghĩa của ẩn dụ này là chúng ta cần sử dụng mọi điều Chúa đã ban cho những mục đích của Ngài. Những hình phạt nặng nề dành cho người làm công vô ích không chỉ giới hạn
trong lãnh vực đầu tư, kinh doanh mà còn có mục đích răn dạy chúng ta phải dùng cuộc đời mình để đầu tư, không được bỏ phí.

Ta-lâng trong ẩn dụ này cụ thể là tiền bạc. Ngày nay một ta-lâng có giá trị khoảng một triệu mỹ kim. Trong tiếng Anh ngày nay thường không đề cập từ “talent” theo ý nghĩa này nhưng hay dùng để chỉ những kỹ năng hay khả năng. Nếu việc đầu tư thực hiện những mục đích thiên thượng bằng phương cách chính trực thì ẩn dụ này chứng tỏ đầu tư chứ không phải tích trữ mới là việc đúng. Phần cuối câu chuyện, người chủ đã khen ngợi hai người làm công đáng tin cậy của mình
rằng, “hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín kia, được lắm” (Ma-thi-ơ 25:23). Trong lời khen ngợi này, chúng ta thấy người chủ quan tâm đến kết quả (“được lắm”), phương cách (“ngay lành”) và động cơ (“trung tín”).

Ở đây còn có một điểm khác liên quan rất nhiều đến công việc là sự khích lệ việc mạo hiểm đầu tư vì mục tiêu sinh lợi. Đôi khi, Cơ Đốc Nhân xem sự tăng trưởng, tăng năng suất và thu về lợi tức là bất khiết trước mặt Đức Chúa Trời; nhưng ẩn dụ ở đây đã phủ nhận quan niệm đó. Chúng ta cần đầu tư tất cả điều chúng ta có cho vương quốc của Đức Chúa Trời cả những kỹ năng và khả năng của bản thân, cũng như tài sản và mọi nguồn lực trong công việc. Điều này bao gồm cả sản xuất những sản phẩm và cung cấp các dịch vụ cần thiết. Vì vậy những giáo viên tình nguyện dạy Trường Chúa Nhật là người thực hiện đúng ý nghĩa của ẩn dụ này; cũng như những người chủ khởi nghiệp kinh doanh tạo việc làm cho những người khác, hay người quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe khởi xướng các chiến dịch nâng cao ý thức về bệnh AIDS hay người thợ máy phát kiến một tiến trình vận hành mới. Tất cả đều là những người sống đúng với ý nghĩa của ẩn dụ này.

Chúa không ban tài năng giống nhau hay ở tầm mức bằng nhau cho mọi người. Nếu chúng ta cố gắng hết sức để sử dụng những tài năng Chúa ban, chúng ta sẽ được Ngài khen “được lắm.” Đây không chỉ là lời khen ngợi về việc sử dụng tài năng, mà còn là sự xác nhận giá trị của mỗi người. Ẩn dụ đã được khép lại với việc giao thêm ta-lâng của người thứ ba cho người đã có mười ta-lâng. Giá trị của mỗi người đầy tớ ngang nhau không đồng nghĩa với việc họ sẽ được thưởng như nhau. Trong công việc có những vị trí đòi hỏi nhiều kỹ năng hay khả năng hơn và do vậy được trả công tương xứng. Trong câu chuyện này, hai người đầy tớ trung tín được thưởng khác nhau nhưng cả hai đều được khen ngợi giống nhau. Áp dụng của ẩn dụ này là nếu chúng ta biết tận dụng mọi tài năng Chúa ban vì sự vinh hiển của Ngài chúng ta sẽ được kể là ngang hàng với những người đầy tớ trung tín và đáng tin cậy của Đức Chúa Trời.[2]

CHIÊN VÀ DÊ (MA-THI-Ơ 25:31-46)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Điều cuối cùng Chúa Giê-xu dạy dỗ trong phần này giúp chúng ta tự xét mình đã đối xử với những người cần được giúp đỡ ra sao. Ở đây cho biết khi Chúa Giê-xu trở lại trong sự vinh quang, Ngài sẽ ngồi trên ngai và chia mọi người ra như “người chăn chia chiên và dê ra” (Mat 25:32). Cách Chúa phân chia tùy thuộc vào việc chúng ta đối đãi với những người cần được giúp đỡ như thế nào. Với những người thuộc nhóm “chiên”, Chúa sẽ nói rằng,

Hỡi những người được Cha Ta ban phước, hãy đến thừa hưởng vương quốc thiên đàng đã chuẩn bị sẵn cho các con từ khi tạo dựng trời đất. Vì Ta đói, các con cho Ta ăn; Ta khát, các con cho Ta uống; Ta là khách lạ, các con tiếp rước Ta, Ta trần truồng, các con mặc cho Ta; Ta ốm đau, các con chăm sóc Ta; Ta bị tù, các con thăm viếng Ta. (Mat 25:34-36)

Chúa Giê-xu liệt kê những người cần cứu giúp đã được các “con chiên” của Chúa phục vụ. Chúa Giê-xu giải thích, “khi các con làm điều ấy cho một người thấp kém nhất trong những anh em nầy của Ta, tức là đã làm cho Ta” (Mat 25:40). Với những ai bị kể là “dê”, Ngài phán rằng,

Hãy lui ra khỏi Ta... Vì Ta đói, các ngươi không cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi không cho Ta uống, Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước Ta; Ta trần truồng, các ngươi không mặc cho Ta; Ta ốm đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng Ta... khi các ngươi không làm điều đó cho một người thấp kém nhất trong những người nầy, tức là các ngươi đã không làm cho Ta. (Mat 25:41-43, 45)

Dù là cá nhân hay tập thể, chúng ta đều được kêu gọi cứu giúp những ai cần được giúp đỡ. Chúng ta là những người được sống dưới sự chăm sóc của Đức Chúa Trời (1 Sa 25:29) nên chúng ta không thể phớt lờ những hoàn cảnh khó khăn của người khác khi họ đói khát, trần truồng, không nhà ở, ốm đau, hay tù đày.

Chúng ta làm việc để đáp ứng nhu cầu của bản thân lẫn nhu cầu của những người lệ thuộc nơi chúng ta; nhưng chúng ta cũng làm việc để có chút gì đó giúp cho những ai cần được giúp đỡ (Hê 13:1-3). Chúng ta cần hiệp tác với những người khác để tìm ra phương cách giúp đỡ những người thiếu thốn các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống mà đôi khi chúng ta không cảm thấy trân trọng. Nếu chúng ta xem xét sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu trong phân đoạn này cách nghiêm túc, chúng ta sẽ thấy còn rất nhiều người cần được chúng ta giúp đỡ.

Chúa Giê-xu không mô tả cụ thể những người được Chúa gọi là “chiên” đã phục vụ người khác ra sao. Có thể bằng cách tặng quà hay công tác từ thiện. Nhưng cũng có thể là những việc làm bình thường như chuẩn bị đồ ăn và thức uống; giúp đỡ những đồng nghiệp mới làm việc hiệu quả hơn; thiết kế, gia công và bán quần áo. Tất cả những công việc làm ra những sản phẩm và cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người đều là sự phục vụ người khác, và qua đó, cũng
là phục vụ Chúa Giê-xu.

THÂN THỂ ĐẤNG CHRIST (MA-THI-Ơ 26)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Giu-đa là một trong mười hai môn đồ đã lập kế hoạch giết Chúa Giê-xu khi ông đến gặp những lãnh đạo tôn giáo đề nghị giao nộp Ngài cho các binh lính của đền thờ. Trong bối cảnh những sự kiện dẫn đến việc Chúa Giê-xu chịu đóng đinh diễn ra cách nhanh chóng, Chúa Giê-xu đã ăn bữa tối cuối cùng với các môn đồ của Ngài. Trong bữa ăn đó, Chúa Giê-xu đã chọn bánh mì và rượu để đại diện cho chính mình và sự hy sinh sắp đến. Chúa Giê-xu đã cầm bánh lên và nói rằng, “đây là thân thể Ta” (Mat 26:26); rồi cầm chén lên, nói rằng, “đây là huyết Ta” (Mat 26:28). Trong bản tuyên xưng đức tin Nicene, Chúa Giê-xu là “vốn có, không phải được dựng nên.” Con Đức Chúa Trời không phải là sản phẩm được tạo ra, Đức Chúa Cha không dựng nên Ngài. Nhưng Chúa Giê-xu lại chỉ định những vật hữu hình tầm thường như bánh mì và rượu, là sản phẩm con người làm ra để minh họa cho sự hy sinh của mình. Alan Richardson đã viết như sau:

Nếu không bởi sự vất vả và công trồng trọt của người nông dân, nếu không bởi công sức của người làm bánh, người vận chuyển, ngân hàng và cơ quan, cửa hàng và nhà phân phối - mà thật ra, nếu không bởi công sức của người đào mỏ, thợ đóng tàu và thợ rèn kim loại, v.v.. - thì ổ bánh mì này sẽ không thể được đặt trên bàn tiệc thánh. Sự thật là, để làm ra bánh mì và rượu mà chúng ta có ở đây, đòi hỏi sự kết hợp công việc của tất cả mọi người trên đất này với nhau... Đây là sự liên kết lạ lùng không thể bị tách rời giữa bánh mì bởi mồ hôi, công sức con người làm ra với bánh của sự sống được ban cho con người cách miễn phí.[1]

Nói cách khác tất cả mọi người đều dự phần. Vì sao Chúa Giê-xu lại chọn những sản phẩm hữu hình, bình thường được con người làm ra để đại diện cho Ngài thay vì những yếu tố tự nhiên hay các khái niệm trừu tượng hoặc biểu tượng mà Ngài đã sáng tạo? Chúng ta không hiểu. Nhưng Chúa Giê-xu đã đề cao những sản phẩm từ công việc của con người và sử dụng chúng để đại diện cho giá trị vô hạn của Ngài. Sau khi Chúa Giê-xu sống lại, Ngài cũng mặc lấy một thân thể vật lý (Mat 28:9, 13), vì thế không có lý do gì để chúng ta nghĩ rằng vương quốc của Đức Chúa Trời là cõi tâm linh hoàn toàn tách biệt khỏi thực tại vật chất mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng. Sau khi tạo dựng loài người (Sáng 2:7; Giăng 1), Chúa đã chọn những sản phẩm do con người làm ra để đại diện cho Ngài. Đây là ân sủng vượt quá mọi sự hiểu biết của con người.

SỰ CHẾT, SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA GIÊ-XU VÀ SỰ ỦY NHIỆM RA ĐI CỦA NHỮNG NGƯỜI THEO NGÀI (MA-THI-Ơ 27-28)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Khác với các sách Tin Lành khác, Ma-thi-ơ đã nhấn mạnh những hàm ý vô cùng quan trọng trong sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu Christ; sau đó dẫn độc giả quay lại với chủ đề trọng tâm là nước thiên đàng và vương quốc trên đất. Việc bầu tối sầm, nền đất rúng động, và những người đã chết sống lại (Mat 27:45- 54) chính là những dấu hiệu rõ ràng cho biết thời đại hiện nay đã kết thúc và một thời đại mới đã bắt đầu. Nhưng đời sống và công việc vẫn cứ tiếp diễn như trước đó; mọi thứ vẫn tiếp tục như thường lệ. Có điều gì thật sự thay đổi tại thập tự giá trên đồi Gô-gô-tha không?

Tin Lành theo Ma-thi-ơ quả quyết rằng, “Có.” Sự hy sinh của Chúa Giê-xu chính là dấu chấm hết cho hệ thống dựa trên sự kiêu ngạo quyền lực và sự khôn ngoan của con người trên thế giới này. Sự sống lại của Chúa Giê-xu đánh dấu việc đường lối của Đức Chúa Trời lan tràn vào thế giới này. Vương quốc của Đức Chúa Trời vẫn chưa phủ khắp cả thế giới, nhưng Đấng Christ cai trị trên tất cả những ai tin theo Ngài.

Công tác của Chúa Giê-xu trên đất đã kết thúc. Ma-thi-ơ 28:16-20 ghi lại cho chúng ta biết trách nhiệm được giao cho những ai tin theo Ngài:

Mười một môn đồ đi đến miền Ga-li-lê, tới ngọn núi mà Đức Chúa Jêsus đã chỉ cho họ. Khi thấy Ngài thì họ thờ lạy Ngài. Nhưng còn một vài người nghi ngờ. Đức Chúa Jêsus đến và phán với họ rằng: “Tất cả thẩm quyền trên trời dưới đất đã giao cho Ta. Vậy, hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta, hãy nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh làm báp-têm cho họ, và dạy họ giữ mọi điều Ta đã truyền cho các con. Và nầy, Ta luôn ở với các con cho đến tận thế.”

Phân đoạn Kinh Thánh này thường được gọi là Đại Mạng Lệnh, mà đa số Cơ Đốc Nhân chỉ chú trọng đến khía cạnh truyền giảng của nó. Tuy nhiên, mạng lệnh ở đây thật chất nằm ở việc “khiến muôn dân trở nên môn đồ,” chứ không chỉ dừng lại ở việc “đem người khác trở lại tin Chúa.” Toàn bộ tập chú giải này đã trình bày công việc là một phần quan trọng của người môn đồ. Nhìn biết công việc trong sự tể trị của Đấng Christ cũng là một phần trong việc làm trọn Đại Mạng Lệnh. Chúng ta đã được lệnh xuất kích. Chúng ta cần đem Tin Lành đến mọi đất nước, làm phép Báp-têm cho những ai tin nhận Chúa, và dạy họ “giữ mọi điều Ta đã truyền cho các con” (Mat 26:20). Khi nhìn lại hai mươi tám chương của sách Ma-thi-ơ, chúng ta thấy có rất nhiều mạng lệnh đụng chạm đến chúng ta trong nơi làm việc của mình. Đây là những sự dạy dỗ dành cho chúng ta và cho cả những thế hệ sau chúng ta nữa.

LỜI KẾT CỦA SÁCH MA-THI-Ơ

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Đức Chúa Trời quan tâm đến công việc của chúng ta và Kinh Thánh nói rất nhiều về vấn đề này. Như đã lưu ý trong phần giới thiệu, Tin Lành theo Ma-thi-ơ đề cập đến thần học trong công việc và những áp dụng thực tiễn của nó trong rất nhiều khía cạnh: cách lãnh đạo và thẩm quyền lãnh đạo, tầm ảnh hưởng và quyền lực, kinh doanh cách chính trực và gian dối, thành thật và lừa đảo, cách đối xử với nhân viên, phương pháp giải quyết xung đột, sự giàu có và những nhu cầu sinh sống tối thiểu, những mối liên hệ tại nơi làm việc, đầu tư và tích trữ, nghỉ ngơi, và cách sống trong vương quốc của Đức Chúa Trời dù chúng ta vẫn đang làm việc trong môi trường thế tục.

Cơ Đốc Nhân thường cho rằng đời sống của chúng ta được chia làm hai lãnh vực: thế tục và thuộc linh. Công việc chỉ đơn thuần là cách để kiếm sống, chỉ là một hoạt động thế tục không hề có chút ý nghĩa thuộc linh. Đi nhà thờ và tĩnh nguyện cá nhân được cho là những yếu tố thuộc linh duy nhất trong đời sống. Nếu hiểu sai sách Ma-thi-ơ thì có thể củng cố thêm cho quan điểm tách biệt này, nghĩa là “vương quốc thế gian là đại diện cho vật chất, những phần thế tục của đời sống; và nước thiên đàng là đại diện cho những điều gì đó thiêng liêng, thoát tục”. Nhưng nếu hiểu đúng sách Ma-thi-ơ, thì cả hai vương quốc này đều bao gồm mọi khía cạnh, phương diện trong đời sống. Vương quốc của Đức Chúa Trời bao gồm cả khía cạnh vật chất lẫn tâm linh; vương quốc thế gian cũng có hai khía cạnh đó. Con đường của Cơ Đốc Nhân là sử dụng trọn đời sống mình, bao gồm cả công việc, cho mục đích phục vụ trong vương quốc Đức Chúa Trời, là vương quốc mà Đấng Christ hiện đang đến trong thế giới này.

Chúa Giê-xu kêu gọi những người theo Ngài tuân giữ những mục đích, giá trị, và nguyên tắc của Đức Chúa Trời đang khi họ sống và làm việc giữa thế giới sa ngã này. Với Cơ Đốc Nhân, thiêng liêng và thế tục là hai phần không thể tách rời nhau. “Không ai có thể làm tôi hai chủ” (Mat 6:24). Trong cả cõi vũ trụ được Đức Chúa Trời tạo dựng và bảo tồn, không hề có một khoảng không “thế tục” nào nằm ngoài tầm ảnh hưởng, quyền điều khiển hay sự cai trị của Ngài. Mặc dù vương quốc của sự tối tăm vẫn còn đó, nhưng vương quốc của Đức Chúa Trời vẫn đang đến gần. Con người và hệ thống của thế giới này thường không phản ánh đường lối của Đức Chúa Trời. Những ai được Đấng Christ kêu gọi phải học cách trung tín phục vụ vương quốc Đức Chúa Trời trong khi sống giữa những quyền lực chống đối đường lối của Ngài. Trong thế giới quan của Cơ Đốc Nhân không thể có việc trốn chạy hay bỏ mặc thế giới này. Nhưng ngược lại, Cơ Đốc Nhân phải là những người tích cực hơn hết trong việc tạo nên những cấu trúc, trật tự xã hội phản ánh vương quốc của Đức Chúa Trời trong mọi lãnh vực đời sống, kể cả tại nơi làm việc. Chúng ta là hình mẫu cho nếp sống trong vương quốc của Đức Chúa Trời tại nơi mình làm việc, đặc biệt qua việc chúng ta trao phó quyền lực và của cải mình có trong tay Chúa rồi lệ thuộc nơi năng quyền và sự chu cấp của Ngài. Đó mới thật sự là một đời sống đúng với ý nghĩa của lời cầu nguyện chung, “Vương quốc Cha được đến. Ý Cha được nên, ở đất như ở trời.”

NHỮNG CHỦ ĐỀ VÀ CÂU KINH THÁNH CHÍNH TRONG SÁCH MA-THI-Ơ

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

CÂU

CHỦ ĐỀ

Ma-thi-ơ 4:18-22

Lời kêu gọi của Chúa Giê-xu là sự biến đổi đời sống hoàn toàn và triệt để, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc từ bỏ công việc và rời khỏi nơi làm việc.

Ma-thi-ơ 5:1-16

Các phước lành là những đặc điểm mà mỗi Cơ Đốc Nhân sống cho nước Trời cần bày tỏ ở mọi nơi, bao gồm cả nơi làm việc. Có thể chúng ta sẽ bị bắt bớ, nhưng chúng ta sẽ trở nên người làm chứng trung tín của sự sáng trong nơi tối tăm.

Ma-thi-ơ 5:33-37

Người tin Chúa phải là người có hành động đi đôi với lời nói. Điều này cần có trong đời sống cá nhân lẫn trong công việc.

Ma-thi-ơ 6:19-34

Người tin Chúa là người xem trọng vương quốc sẽ đến của Đức Chúa Trời hơn tiền bạc và của cải trong thế giới này. Trong mọi công việc, động cơ chính của chúng ta là vương quốc sẽ đến của Đức Chúa Trời và đường lối của Ngài.

Ma-thi-ơ 8:18-22; 9:9; 9:37-38

Lời kêu gọi trở nên môn đồ của Chúa Giê-xu đôi lúc đòi hỏi chúng ta phải thay đổi công việc và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của chúng ta.

Ma-thi-ơ 10:5-15

Người tin Chúa không trông cậy nơi tiền bạc nhưng ghi nhớ mọi thu nhập chúng ta có từ việc làm là món quà của Đức Chúa Trời.

Ma-thi-ơ 17:24-27

Người tin Chúa luôn là công dân thuộc về hai vương quốc. Chúng ta chỉ trung tín với Đức Chúa Trời, nhưng đồng thời cũng phải chiếu sáng trong thế giới tối tăm qua việc hết sức tránh không vi phạm các nguyên tắc của thế giới này trong công việc, tiền bạc, và nộp thuế.

Ma-thi-ơ 19:16-30

Sự giàu có trong thế giới này có thể sẽ khiến chúng ta khó bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Vấn đề chính là chúng ta xem điều gì quan trọng nhất, đó là công việc và của cải hay Đức Chúa Trời, Vua của chúng ta và vương quốc của Ngài.

Ma-thi-ơ 20:1-16

Ẩn dụ này dạy dỗ về đức khiêm nhường của người tin Chúa trong ân điển của Đức Chúa Trời, nghĩa là không trở nên kiêu ngạo hay than trách về ân điển Chúa ban cho người khác.

Ma-thi-ơ 20:20-28

Người lãnh đạo chân chính không phô trương bản thân và tùy thuộc vào sự đánh giá của thế gian. Người lãnh đạo chân chính phải là người phục vụ và quan tâm đến những người khác.

GIỚI THIỆU SÁCH MÁC

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Giống những sách Tin Lành khác, sách Mác kể lại các công tác của Chúa Giê-xu như: dạy dỗ, chữa bệnh, thi hành những dấu lạ bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời, và trên hết là chịu chết cho nhân loại và sống lại.

Không một người nào có thể thay thế và đảm nhận các công tác Đấng Christ đã thi hành. Tuy nhiên sự tiếp nối công tác của Đấng Christ lại là công việc của dân sự Đức Chúa Trời, nghĩa là chúng ta được dự phần trong tiến trình Đức Chúa Trời phục hồi thế giới trở lại theo ý định ban đầu của Ngài. Công tác của chúng ta không phải là công tác của Đấng Christ, nhưng hướng đến cùng một mục tiêu. Dù sách Tin Lành Mác không nói về công việc của chúng ta, nhưng giúp chúng ta hiểu và xác định mục đích tối hậu trong công việc của mình.

Khi nghiên cứu sách Mác, chúng ta nhận ra Chúa kêu gọi chúng ta làm việc là để phục vụ trong vương quốc của Ngài. Chúng ta sẽ phân biệt các chu kỳ cuộc sống mà Chúa đã định: làm việc, nghỉ ngơi và thờ phượng. Chúng ta sẽ thấy cả cơ hội lẫn cạm bẫy trong việc kiếm sống, tích trữ của cải, tìm kiếm địa vị, đóng thuế, và làm việc trong một xã hội không quan tâm đến những mục đích của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ tiếp xúc với người đánh cá, người lao động phổ thông, người cha, người mẹ (làm cha mẹ cũng là một loại công việc), người thu thuế, người tàn tật không thể lao động, người lãnh đạo, nông dân, luật sư, tu sĩ, thợ xây dựng, các nhà hảo tâm (phần lớn là phụ nữ), người giàu, thương gia, người cho vay tiền, người lính và cả những quan chức chính quyền. Chúng ta sẽ thấy nhiều loại người với các tính khí khác nhau mà ngày nay chúng ta vẫn thường gặp trong đời sống và công việc. Chúng ta tiếp cận với con người không như các cá thể đơn lẻ, nhưng là thành viên của gia đình, cộng đồng và quốc gia. Công việc và người làm việc xuất hiện trong cả sách Tin Lành Mác.

Mác là sách Tin Lành ngắn nhất, không có nhiều lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu như sách Ma-thi-ơ và Lu-ca. Vì vậy chúng ta cần chú ý tìm hiểu cách áp dụng sách Tin Lành Mác cho các công việc không phải là mục vụ, không có liên quan đến nhà thờ. Những phân đoạn chính trong sách Mác có liên quan đến công việc thường rơi vào ba nhóm sau: thứ nhất, phần tường thuật Chúa Giê-xu mời gọi các môn đồ làm việc trong vương quốc của Đức Chúa Trời; thứ hai, những sự tranh cãi liên quan đến chu kỳ làm việc và nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát; và thứ ba, những vấn đề tài chính liên quan đến của cải, tích trữ tài sản và đóng thuế. Trong mỗi chủ đề nêu trên, sách Mác tập trung vào việc người theo Chúa Giê-xu phải được biến đổi ra sao. Quyển sách này trình bày theo cùng bố cục trên: phần một Nước Trời và Huấn Luyện Môn Đệ đề cập chủ đề Chúa Giê-xu kêu gọi các môn đồ; phần hai Chu Kỳ Làm Việc, Nghỉ Ngơi và Thờ Phượng phân tích những sự tranh cãi về luật ngày Sabát; và phần ba Những Vấn Đề Tài Chính bàn về việc đóng thuế và tích trữ của cải.

Giống các sách Tin Lành khác, bối cảnh của sách Mác là giai đoạn kinh tế hỗn loạn. Dưới sự cai trị của đế quốc Rô-ma, xứ Ga-li-lê đã trải qua những biến động lớn về mặt xã hội. Đất đai bị thâu tóm bởi một số ít người ngoại quốc giàu có. Nông nghiệp dần chuyển mình từ canh tác quy mô nhỏ thành các đồn điền có quy mô lớn. Những người trước đây là tá điền, mướn đất canh tác hay thậm chí là chủ đất bây giờ lại trở thành những người đi làm công ăn lương theo ngày. Điều này xảy ra vì tài sản của họ đã bị tịch thu để trả nợ tiền thuế của chính quyền Rô-ma.[1] Trong bối cảnh đó, không ngạc nhiên khi Mác kể lại sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu với nhiều chủ đề liên quan đến kinh tế và tài chính. Việc nhận định chính xác bối cảnh của sách Mác sẽ giúp chúng ta nhận ra những hàm ý ẩn chứa trong nội dung thường bị bỏ sót.

KHỞI ĐẦU CỦA TIN LÀNH (MÁC 1:1-13)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Phần tường thuật về sự rao giảng của Giăng Báp-tít và việc Chúa Giê-xu chịu phép báp-têm rồi bị cám dỗ không có mối liên hệ trực tiếp đến công việc. Tuy nhiên, vì là phần mở đầu sách, phân đoạn này cung cấp cho chúng ta bối cảnh chính của tất cả những việc diễn ra sau đó. Vì vậy chúng ta không thể bỏ qua phần này mà chỉ tập trung vào những phân đoạn áp dụng thực tiễn. Điểm thú vị ở đây là tiêu đề của sách Mác (Mác 1:1) mô tả quyển sách này là “khởi đầu Tin lành của Đức Chúa Giê-xu Christ.” Thu hút sự chú ý của độc giả ngay từ phần mở đầu là điều đặc biệt đối với thể loại văn tường thuật, bởi vì sách Tin Lành này dường như thiếu phần kết. Theo những bản chép tay cổ nhất của sách Mác thì sách Tin Lành này đã kết thúc cách đột ngột ở Mác 16:8, “Vừa ra khỏi mộ, các bà đều chạy trốn vì quá kinh ngạc và run sợ. Họ chẳng dám nói gì với ai vì quá khiếp đảm.” Vì bản văn bị cắt ngang cách đột ngột, nên những người sao chép bản văn đã thêm vào phân đoạn Mác 16:9-20, được tổng hợp từ nhiều phần khác trong Tân Ước tạo nên bản
văn sách Mác như chúng ta có ngày nay. Tuy nhiên, dường như Mác không hề có ý định chấm dứt sách Tin Lành của mình. Sách Mác chỉ đơn thuần là sự “khởi đầu Tin lành của Đức Chúa Giê-xu Christ,” và những ai đọc sách Mác sẽ là người tham dự trong phần tiếp theo của sách Tin Lành này. Nếu đó thực sự là ý định của Mác thì đời sống chúng ta chính là phần tiếp theo của những sự kiện trong sách Mác, và chúng ta có đủ lý do để tin rằng quyển sách này chứa đựng những áp dụng cụ thể cho công việc của mình.[1]

Khi quan sát chi tiết, chúng ta nhận thấy Mác luôn mô tả những người đầu tiên theo Chúa Giê-xu là những người không hoàn hảo, ngay cả mười hai sứ đồ. Sách Mác cung cấp nhiều chi tiết hơn các sách Tin Lành khác trong việc mô tả các sứ đồ là những người thiếu nhận thức, thiếu hiểu biết và thường xuyên thất bại trong việc làm theo lời dạy của Chúa Giê-xu. Với những người dù muốn nhưng cảm thấy không thể áp dụng sự dạy dỗ của Đấng Christ trong công việc của mình thì sách Tin Lành Mác khích lệ hãy mạnh mẽ lên vì các sứ đồ cũng không khác gì chúng ta cả!

Mác 1:2-11 mô tả Giăng Báp-tít như vị sứ giả đã được đề cập trong Ma-la-chi 3:1 và Ê-sai 40:3; ông công bố sứ điệp “Chúa” sắp đến. Cách mô tả về Giăng Báp-tít kết hợp với việc xưng nhận Chúa Giê-xu chính là “Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” (1:1) đã giới thiệu chủ đề chính của sách Mác là “vương quốc của Đức Chúa Trời,” mặc dù đến Mác 1:15 cụm từ này mới được đề cập và liên kết với “Tin Lành”. Trong sách Mác, “Vương quốc của Đức Chúa Trời” không phải là một khái niệm địa lý. Đó là triều đại của Đức Chúa Trời khi con người ở dưới sự cai trị của Ngài thông qua công tác biến đổi của Đức Thánh Linh. Công tác này được nhấn mạnh qua phần mô tả ngắn gọn Chúa Giê-xu chịu phép Báp-têm và bị cám dỗ (Mác 1:9-13). Chính phần mô tả này đã làm nổi bật hình ảnh Đức Thánh Linh được ban xuống trên Chúa Giê-xu và vai trò của Đức Thánh Linh trong việc đưa Chúa Giêxu vào sự cám dỗ và giúp Ngài đắc thắng.

Phân đoạn này phủ nhận cả hai quan điểm phổ biến nhưng đối lập nhau về vương quốc Đức Chúa Trời. Một quan điểm cho rằng vương quốc Đức Chúa Trời vẫn chưa hiện hữu, và sẽ không hiện hữu cho đến khi Đấng Christ trở lại để cai trị thế giới này. Theo quan điểm này, công sở giống như những lĩnh vực khác thuộc trần gian đều là lãnh địa của kẻ thù. Vì vậy trách nhiệm của người tin Chúa là không để mình bị tiêu diệt và tiếp tục truyền giảng; người tin Chúa làm việc là để đáp ứng những nhu cầu của bản thân và dâng hiến cho Hội Thánh. Quan điểm ngược lại thì cho rằng vương quốc Đức Chúa Trời là một phạm trù tâm linh, không liên quan đến thế giới xung quanh. Theo quan điểm này, ngoại trừ cầu nguyện và những công tác liên quan đến Hội Thánh thì tất cả những việc khác người tin Chúa làm kể cả làm việc ở công sở đều không có liên hệ gì với Chúa.

Trái ngược với hai quan điểm trên, Mác khẳng định Chúa Giê-xu đã đến để bắt đầu vương quốc của Đức Chúa Trời ngay trong hiện tại. Chúa Giê-xu đã phán rõ ràng: “Giờ đã trọn, vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần, các ngươi hãy ăn năn và tin nhận Tin Lành” (Mác 1:15). Tất nhiên, trong hiện tại, vương quốc của Chúa vẫn chưa được trọn vẹn, vẫn chưa cai trị trên cả thế giới cho đến khi Đấng Christ trở lại. Nhưng Nước Trời đã đến và đã hiện diện trong thế giới này. Vì vậy, khi chúng ta quy phục sự cai trị của Đức Chúa Trời và công bố về vương quốc của Ngài sẽ đem lại những kết quả thực tế cho thế giới. Thực hiện việc này có thể khiến chúng ta bị xem thường, dẫn đến xung đột, và đôi lúc có thể phải trả giá. Giống như Ma-thi-ơ 4:12, Mác 1:14 nhấn mạnh đến việc Giăng Báp-tít bị bỏ tù và liên kết điều này với lời công bố của Chúa Giê-xu “vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần” (Mác 1:15). Vương quốc Đức Chúa Trời được đặt đối lập với những thế lực của trần gian này. Sách Mác trình bày cách hùng hồn, không lẩn tránh rằng tôn vinh Đức Chúa Trời và rao truyền Tin Lành không hẳn đem lại thành công cho chúng ta trong đời này. Nhưng bởi năng quyền của Đức Thánh Linh, người tin Chúa được kêu gọi để phục vụ Đức Chúa Trời vì lợi ích của những người xung quanh, cũng giống như việc Chúa Giê-xu thi hành phép lạ đem đến sự chữa lành cho nhiều người (Mác 1:23-34, 40-45).

Tầm quan trọng của việc Đức Thánh Linh đến trong thế giới này sẽ được làm rõ hơn trong phần tranh luận về Bê-ên-xê-bun (Mác 3:20-30). Đây là một phân đoạn khó giải nghĩa nhưng là phần quan trọng của thần học về vương quốc Đức Chúa Trời cũng chính là nền tảng cho thần học công việc. Phân đoạn này dường như có ý khi Chúa Giê-xu đuổi quỷ, Ngài đã giải phóng thế giới khỏi sự cai trị của Sa-tan. Ý tưởng này được mô tả với hình ảnh một người có sức mạnh đã bị trói. Giống như Chúa Giê-xu, người tin Chúa cũng cần nhờ cậy quyền năng của Đức Thánh Linh để biến đổi thế giới này, thay vì xa lánh cuộc đời hay đồng hóa với nó.

SỰ KÊU GỌI CÁC MÔN ĐỒ ĐẦU TIÊN (MÁC 1:16-20)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Phần Kinh Thánh này cần được phân tích cẩn thận vì các môn đồ là khuôn mẫu cho đời sống của người theo Chúa nhưng họ cũng có vị thế đặc biệt trong chương trình cứu rỗi. Các môn đồ được kêu gọi vào một công tác đặc biệt nên việc họ từ bỏ công việc hiện tại của mình không phải là khuôn mẫu chung cho đời sống và công việc của người tin Chúa. Thật ra, phần lớn những người đi theo Chúa Giê-xu không từ bỏ công việc của họ.[1] Tuy nhiên, cách thức vương quốc Đức Chúa Trời đã phá đổ và thay thế những nguyên tắc phổ thông của xã hội là đặc tính áp dụng có tính phổ quát (cho mọi thời đại, mọi hoàn cảnh) và đem đến sự khai phóng cho công việc của chúng ta.

Mệnh đề mở đầu trong Mác 1:16 giới thiệu Chúa Giê-xu là người làm việc lưu động (“khi đi dọc theo bờ biển”), và Ngài đã kêu gọi những người đánh cá cùng đi với Ngài. Thách thức này không chỉ đơn thuần là từ bỏ nguồn thu nhập và sự ổn định hay như cách chúng ta thường nói “ra khỏi chốn bình yên.” Phần tường thuật của Mác về sự kiện này đã ghi lại những chi tiết mà những sách khác không có, đó là việc Gia-cơ và Giăng rời bỏ cha mình là Xê-bê-đê “với mấy người làm thuê” (Mác 1:20). Bản thân họ không phải là người làm thuê nhưng là những người có phần trong việc kinh doanh tương đối thành công của gia đình. Khi phân tích sự đáp ứng của các môn đồ, Suzanne Watts Henderson đã lưu ý điều này: “tất cả những chi tiết kết hợp lại đã tạo nên sức nặng ý nghĩa cho động từ [bỏ]: họ không chỉ bỏ lưới lại đằng sau, nhưng cả người cha, cả con tàu và toàn bộ công việc kinh doanh.”[2] Đối với các môn đồ, khi đi theo Chúa Giê-xu, họ bày tỏ quyết định để mối liên hệ cá nhân với Chúa xác định giá trị và địa vị của bản thân. Đánh cá là nghề quan trọng ở xứ Ga-li-lê, liên hệ chặt chẽ với nghề ướp cá.[3]

Trong giai đoạn này, xứ Ga-li-lê đầy sự bất ổn nhưng nhờ liên kết hỗ trợ nhau nên hai ngành nghề này vẫn ổn định. Việc các môn đồ sẵn sàng từ bỏ sự yên ổn này là một điều phi thường; ổn định kinh tế không còn là mục tiêu chính trong công việc của họ. Tuy nhiên, ở đây chúng ta nên cẩn trọng vì Chúa Giê-xu không hề phủ nhận công việc họ từng làm nhưng chỉ tái định hướng nghề nghiệp của họ. Chúa Giê-xu kêu gọi Si-môn và Anh-rê trở nên “tay đánh lưới người” (Mác 1:17), qua đó Ngài xác nhận công việc trước đây của họ là hình ảnh cho công tác mới mà Chúa Giê-xu kêu gọi họ thực hiện. Mặc dù phần lớn người tin Chúa không được kêu gọi
để bỏ nghề nghiệp của mình và trở thành những người đi đây đó giảng Tin Lành; nhưng chúng ta, là những Cơ Đốc Nhân đều được kêu gọi để xác định chính mình là Cơ Đốc Nhân, thuộc về Đấng Christ. Vì vậy dù có rời bỏ công việc hay không, thì chúng ta, môn đồ của Chúa Giê-xu, không còn là “người đánh cá,” “người thu thuế,” hay là người nào đó được nhận dạng dựa trên nghề nghiệp. Chúng ta là “người đi theo Chúa Giê-xu.” Điều này thách thức chúng ta chống lại xu hướng bị định hình bởi nghề nghiệp của mình.

NGƯỜI BẠI LIỆT (MÁC 2:1-12)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Câu chuyện Chúa Giê-xu chữa lành người bại liệt đặt ra vấn đề thần học đó là công việc có ý nghĩa gì đối với những người không có khả năng lao động. Trước khi được chữa lành, người bại không thể làm việc để nuôi sống bản thân. Vì vậy, anh lệ thuộc vào lòng trắc ẩn, sự thương xót của những người xung quanh để sống qua ngày. Nhưng người bại có những người bạn bày tỏ sự quan tâm, tình thương và tình bạn đối với anh là người không thể làm việc để nuôi sống bản thân cũng như tạo dựng mối liên hệ. Những người bạn của người bại có đức tin chủ động và hoàn toàn không có sự tách biệt giữa phẩm chất và hành vi. Chúa Giê-xu đã “thấy” đức tin của họ.

Chúa Giê-xu nhìn nhận nỗ lực của những người bạn là sự thể hiện cho đức tin của tập thể. “Thấy đức tin của họ, Đức Chúa Jêsus phán với người bại: ‘Hỡi con, tội lỗi con đã được tha’” (Mác 2:5). Điều đáng buồn trong cộng đồng đức tin ở Tây Phương ngày nay là không có ảnh hưởng rõ nét trên công việc của các tín hữu. Thậm chí nếu có nhận được sự giúp đỡ hay khích lệ nào trong nghề nghiệp thì phần lớn đều đến từ sự giúp đỡ và khích lệ cách cá nhân từ các thành viên của Hội Thánh. Trong quá khứ, ở Tây Phương, đa phần người tin Chúa thường làm việc chung với những người trong cùng Hội Thánh, vì thế các Hội Thánh dễ dàng áp dụng Lời Chúa cho những người có chung nghề nghiệp. Các tín hữu ở Tây phương ngày nay hiếm khi làm việc với những người trong cùng Hội Thánh. Tuy nhiên, trong Hội Thánh vẫn có những người có nghề nghiệp giống nhau; do đó họ vẫn có thể chia sẻ với nhau những thách thức cũng như cơ hội trong công việc của mình; nhưng điều này hiếm khi xảy ra. Nếu chúng ta không tìm cách để các tín hữu có chung ngành nghề có thể hỗ trợ nhau, cùng nhau tăng trưởng và phát triển một cộng đồng Cơ Đốc gắn kết với nhau qua công việc, thì chúng ta đã để mất một đặc tính thông công vô cùng quan trọng trong Mác 2:3-12.

Từ câu chuyện ngắn ngủi này, chúng ta có thể nhận thấy ba điều: (1) công việc là để giúp ích cho những người có thể làm việc nuôi sống bản thân cũng như những người không thể làm việc; (2) giống như phẩm chất và hành vi, đức tin và việc làm không hề có sự phân rẽ, nhưng được kết hợp thành hành động bởi sự thêm sức của Chúa; và 3) việc làm được thực hiện bởi đức tin cần có sự hỗ trợ của cộng đồng đức tin.

KÊU GỌI LÊ-VI (MÁC 2:13-17)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Kêu gọi Lê-vi là sự kiện xảy ra khi Chúa Giê-xu đi đây đó (Mác 2:13-14). Phân đoạn này nhấn mạnh đến tính chất công khai của lời kêu gọi. Trong lúc đang dạy dỗ đám đông, Chúa Giê-xu kêu gọi Lê-vi (Mác 2:14) khi đó ông “đang ngồi tại phòng thuế.” Công việc của Lê-vi khiến ông bị dân chúng Ga-li-lê khinh miệt. Đã có nhiều tranh luận về mức thuế mà người dân Ga-li-lê phải nộp cho chính quyền Rô-ma và đảng Hê-rốt, và đa số đều tin rằng người dân phải đóng thuế nặng nề.

Việc thu thuế được giao khoán cho một nhóm thu thuế tư nhân. Người thu thuế phải nộp trước toàn bộ tiền thuế trong khu vực của họ, sau đó truy thu lại từ dân chúng. Thông thường người thu thuế bắt người dân đóng thuế cao hơn mức quy định và hưởng lợi từ số tiền chênh lệch. Nhà cầm quyền Rô-ma đã giao khoán công việc thu thuế đầy “nhạy cảm” này cho những người địa phương, khiến cho mức thuế bị đẩy lên cao và mở đường cho vô số những sai phạm.[1] Có thể đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người Ga-li-lê bị mất đất ruộng; người chủ đất phải vay tiền để nộp thuế và nếu họ bị mất mùa, thì sẽ bị tịch thu tài sản để trả nợ. Mô tả Lê-vi đang ngồi tại phòng thuế đồng nghĩa ông là một biểu tượng sống cho sự đô hộ của người Rô-ma cũng như là bằng chứng cho thái độ sẵn lòng hợp tác với chính quyền Rô-ma của nhiều người Do Thái. Mác 2:16 liên kết giữa những người thu thuế và “những kẻ có tội” càng làm nổi bật thêm mối liên hệ không mấy tốt đẹp này.[2] Trong khi Lu-ca nhấn mạnh đến việc Lê-vi từ bỏ mọi thứ để đáp ứng lời kêu gọi của Chúa Giê-xu (Lu 5:28), Mác chỉ đơn thuần kể lại Lê-vi đứng dậy đi theo Ngài. Sau đó, ông đã tổ chức một buổi tiệc tại nhà mình mời Chúa Giê-xu, các môn đồ và một nhóm những người thu thuế và “những kẻ có tội.” Nếu chỉ lướt qua thì dường như tại đây mô tả một người đang tìm cách chia sẻ Tin Lành với những đồng nghiệp của mình, nhưng trong thực tế có lẽ còn ẩn chứa nhiều điều khác. “Nhóm người” của Lê-vi bao gồm những đồng nghiệp và những người được kể là “kẻ có tội”. Giữa các thành viên trong nhóm có mối liên hệ gần gũi, nhưng mối liên hệ của nhóm với cộng đồng bên ngoài thì lại không mấy tốt đẹp. Công việc của nhóm người này đã khiến họ bị giới lãnh đạo cộng đồng xa lánh, bị tách biệt với xã hội. Trong nhiều công việc ngày nay cũng có hiện tượng tương tự: đồng nghiệp thường cởi mở với chúng ta hơn là hàng xóm. Do đó, nếp sống người làm việc tạo cho chúng ta cơ hội trình bày sứ điệp Tin Lành cho đồng nghiệp. Điều thú vị là những bữa ăn thân mật cũng là một phần quan trọng trong chức vụ của Chúa Giê-xu. Chi tiết này gợi ý cho chúng ta một phương cách cụ thể tạo cơ hội trình bày niềm tin: hẹn ăn trưa, hẹn tập thể dục, chạy bộ hay tập thể hình có thể giúp tạo những mối liên hệ thân mật, gần gũi với các đồng nghiệp. Những tình thân này thường là mối liên hệ chặt chẽ và qua đó Thánh Linh có thể mở ra những cơ hội để chúng ta làm chứng về Chúa.

Điều này đặt ra một vấn đề. Nếu người tin Chúa ngày nay tổ chức một bữa ăn với đồng nghiệp, với bạn bè hàng xóm, và những người bạn trong nhà thờ, thì họ nên trò chuyện về đề tài gì? Niềm tin của người Cơ Đốc có rất nhiều điều có thể chia sẻ với người khác, như cách trở thành một nhân viên hay một người hàng xóm tốt. Nhưng liệu những người tin Chúa có biết cách chia sẻ mà đồng nghiệp và hàng xóm của họ có thể hiểu không? Nếu cuộc trò chuyện chuyển sang các chủ đề về công sở như tìm kiếm việc làm, dịch vụ khách hàng hay các đề tài xã hội như thuế đất hay quy hoạch đô thị, liệu chúng ta có thể trình bày súc tích, rõ ràng cách áp dụng những nguyên tắc Cơ Đốc Giáo trong những vấn đề này hay không? Hội Thánh có trang bị giúp tín hữu sẵn sàng đối thoại hay chưa? Tại đây, rõ ràng Lêvi đã có thể chia sẻ cách áp dụng thích hợp sứ điệp của Chúa Giê-xu cho những người đang họp lại. Đề tài nộp thuế sẽ được nhắc đến trong phần sau của sách Tin Lành này; lúc đó chúng ta sẽ giải đáp những thắc mắc liên quan đến quan điểm của Chúa Giê-xu về việc đóng thuế.

MƯỜI HAI SỨ ĐỒ (MÁC 3:13-19)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Bên cạnh những phần ký thuật về sự kêu gọi cá nhân, chúng ta cũng có phần ghi chép về việc Chúa Giê-xu chọn mười hai sứ đồ. Điểm cần lưu ý trong Mác 3:13-14 là mười hai sứ đồ là một nhóm riêng biệt trong số các môn đồ của Chúa Giê-xu. Sứ đồ là chức vụ đặc biệt, thực hiện một công tác quan trọng mà phần lớn chúng ta không trải nghiệm. Nếu chúng ta muốn học hỏi từ kinh nghiệm của họ, thì chúng ta phải xem xét từ góc nhìn về hành động và niềm tin của các sứ đồ liên hệ với vương quốc Đức Chúa Trời như thế nào, chứ không chỉ đơn thuần là họ đã từ bỏ công việc để theo Chúa Giê-xu.

Các phẩm chất của Si-môn, Gia-cơ, Giăng và Giu-đa được liệt kê trong Mác 3:16-19 là những điểm chúng ta cần quan tâm. Si-môn đã được Chúa Giê-xu đặt tên mới là “Phi-e-rơ,” gần giống với chữ petros tiếng Hy Lạp có nghĩa là “hòn đá”. Chi tiết này khiến chúng ta thắc mắc liệu tên này có vừa mang tính châm biếm nhưng cũng là một lời hứa hay không. Phần sau của sách cho biết Si-môn là một người không kiên định nhưng rồi ông đã sống đúng với tên gọi của mình, Hòn Đá. Giống như Phi-e-rơ, công tác phục vụ Chúa của chúng ta trong mọi lĩnh vực, kể cả nơi công sở, sẽ không bao giờ đạt đến sự hoàn hảo tức thì, nhưng là tiến trình trưởng thành qua những thất bại. Nhận thức này sẽ giúp ích cho chúng ta những lúc cảm thấy mình thất bại và tạo ảnh hưởng không tốt cho vương quốc Đức Chúa Trời.

Giống như Si-môn, hai con trai của Xê-bê-đê cũng được đặt tên mới là “Con Trai Của Sấm Sét” (Mác 3:17). Đây là một tên gọi khá kỳ lạ và có vẻ khôi hài, nhưng lại rất phù hợp với tính khí của họ.[1] Tại đây có điểm phải lưu ý là dường như tính khí của những con người này không hề phai mờ khi họ gia nhập vương quốc Đức Chúa Trời. Điều này có hai ý nghĩa. Một mặt, tính khí vẫn là một phần của chúng ta trong vương quốc Đức Chúa Trời. Việc chúng ta bày tỏ Nước Trời tại nơi làm việc vẫn được chuyển tải thông qua tính khí của mỗi người. Điều này thách thức chúng ta cần nhận dạng tính khí riêng của mình, không thể rập khuôn chỉ có một loại tính khí “Cơ Đốc” như nhau. Nhưng đồng thời, trong tính khí của mỗi người cũng có những yếu tố cần được thay đổi bởi Tin Lành. Câu trả lời cho chúng ta ẩn chứa trong tên gọi Chúa đặt cho các con trai của Xê-bê-đê. Tên gọi này cho thấy tính khí nóng nảy và dễ xung đột. Dù tên gọi này được Chúa Giê-xu đặt cách trìu mến, nhưng đây không phải là cái tên khiến họ tự hào.

Hiểu tính khí con người góp phần quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ cách áp dụng niềm tin Cơ Đốc trong công việc. Đa số chúng ta đều thừa nhận những trải nghiệm trong công việc, cả tốt lẫn xấu, phụ thuộc rất nhiều nơi tính khí của những đồng nghiệp. Những phẩm chất tạo nên một đồng nghiệp tràn đầy năng lượng luôn truyền cảm hứng làm việc cho người khác thường khiến cho người đó khó tính. Một người tích cực và xông xáo thường dễ bị xao lãng bởi những ý tưởng, dự án mới, lại hay có định kiến và vội vàng bày tỏ quan điểm. Tính khí của chúng ta giữ vai trò quan trọng. Việc chúng ta cảm thấy dễ dàng hay khó khăn khi làm việc với một ai đó phụ thuộc vào tính khí của chúng ta và của người cùng làm việc. Tuy nhiên, tính khí không chỉ ảnh hưởng đến công việc. Tính khí đặc trưng của chúng ta sẽ định hình cách chúng ta đóng góp cho một tổ chức và qua đó cách chúng ta phục vụ, cống hiến cho vương quốc Đức Chúa Trời. Tính khí định hình những ưu điểm và nhược điểm của chúng ta. Ở một góc độ nào đó, tin theo Đấng Christ đồng nghĩa với việc để Ngài kiểm soát tính khí của bạn, như Chúa đã quở trách các “Con Trai Của Sấm Sét” về tham vọng muốn được ngồi bên phải và bên trái của Ngài (Mác 10:35-45). Nhưng đồng thời, Cơ Đốc Nhân cũng sai lầm khi áp đặt những đặc điểm tính khí cụ thể như một hình mẫu chung cho mọi người. Trong một số cộng đồng Cơ Đốc, những đặc tính như hướng ngoại, ôn hòa, dè dặt trong việc sử dụng quyền lực được “tôn thánh”, còn những đặc tính khác như: chi phối, điều khiển, ít khoan dung và cả tin thường bị “định tội”. Một số Cơ Đốc Nhân nhận thấy những đặc tính là ưu điểm của họ trong công việc như quyết đoán, không vội tin việc chưa kiểm chứng (tin kiểu giáo điều) và có tham vọng lại thường khiến họ có mặc cảm tội lỗi và bị xa lánh trong Hội Thánh. Khi người tin Chúa cố gắng để trở thành người khác, hay cố gắng rập khuôn theo một hình mẫu Cơ Đốc Nhân “chuẩn” trong môi trường công sở, họ có thể khiến người khác cảm thấy thiếu chân thật. Chúng ta được kêu gọi noi gương Đấng Christ (Phil 2:5) và bắt chước những lãnh đạo của mình (Hê 13:7), nghĩa là bắt chước những đức tính tốt, chứ không phải rập khuôn tính khí. Chúa Giê-xu thường chọn những người với nhiều tính khí khác nhau làm bạn và cùng làm việc với Ngài. Có rất nhiều phương cách để hỗ trợ các cá nhân và tổ chức sử dụng những người với tính khí khác nhau cách hiệu quả trong việc đưa ra quyết định, lựa chọn nghề nghiệp, nâng cao năng lực làm việc, điều hành, lãnh đạo, giải quyết xung đột và xây dựng mối liên hệ trong công việc.

Điều này cần phải được xem xét từ hai phương diện: trong tương tác với thần học về của cải và trong liên hệ với điểm chung giữa thần học về Hội Thánh và thần học về công việc. Việc duy trì mối liên hệ giữa các Cơ Đốc Nhân trong môi trường làm việc để hỗ trợ lẫn nhau nghe dường như là điều hấp dẫn và ít thực tế, nhưng thực ra là một nhiệm vụ phải thực hiện. Dù đây là mục tiêu đáng ca ngợi, nhưng chúng ta cần thừa nhận có một số người tin Chúa đặt sai thứ tự ưu tiên và khiến quan điểm của họ bị ảnh hưởng. Những lúc như vậy, trong vai trò là người tin Chúa, trách nhiệm của chúng ta là luôn sẵn sàng để gây dựng nhau trong tình thương, nhắc nhở nhau để hành động của chúng ta thật sự dựa trên những tiêu chuẩn của vương quốc Đức Chúa Trời.

MƯỜI HAI SỨ ĐỒ (MÁC 3:13-19)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Bên cạnh những phần ký thuật về sự kêu gọi cá nhân, chúng ta cũng có phần ghi chép về việc Chúa Giê-xu chọn mười hai sứ đồ. Điểm cần lưu ý trong Mác 3:13-14 là mười hai sứ đồ là một nhóm riêng biệt trong số các môn đồ của Chúa Giê-xu. Sứ đồ là chức vụ đặc biệt, thực hiện một công tác quan trọng mà phần lớn chúng ta không trải nghiệm. Nếu chúng ta muốn học hỏi từ kinh nghiệm của họ, thì chúng ta phải xem xét từ góc nhìn về hành động và niềm tin của các sứ đồ liên hệ với vương quốc Đức Chúa Trời như thế nào, chứ không chỉ đơn thuần là họ đã từ bỏ công việc để theo Chúa Giê-xu.

Các phẩm chất của Si-môn, Gia-cơ, Giăng và Giu-đa được liệt kê trong Mác 3:16-19 là những điểm chúng ta cần quan tâm. Si-môn đã được Chúa Giê-xu đặt tên mới là “Phi-e-rơ,” gần giống với chữ petros tiếng Hy Lạp có nghĩa là “hòn đá”. Chi tiết này khiến chúng ta thắc mắc liệu tên này có vừa mang tính châm biếm nhưng cũng là một lời hứa hay không. Phần sau của sách cho biết Si-môn là một người không kiên định nhưng rồi ông đã sống đúng với tên gọi của mình, Hòn Đá. Giống như Phi-e-rơ, công tác phục vụ Chúa của chúng ta trong mọi lĩnh vực, kể cả nơi công sở, sẽ không bao giờ đạt đến sự hoàn hảo tức thì, nhưng là tiến trình trưởng thành qua những thất bại. Nhận thức này sẽ giúp ích cho chúng ta những lúc cảm thấy mình thất bại và tạo ảnh hưởng không tốt cho vương quốc Đức Chúa Trời.

Giống như Si-môn, hai con trai của Xê-bê-đê cũng được đặt tên mới là “Con Trai Của Sấm Sét” (Mác 3:17). Đây là một tên gọi khá kỳ lạ và có vẻ khôi hài, nhưng lại rất phù hợp với tính khí của họ.[1] Tại đây có điểm phải lưu ý là dường như tính khí của những con người này không hề phai mờ khi họ gia nhập vương quốc Đức Chúa Trời. Điều này có hai ý nghĩa. Một mặt, tính khí vẫn là một phần của chúng ta trong vương quốc Đức Chúa Trời. Việc chúng ta bày tỏ Nước Trời tại nơi làm việc vẫn được chuyển tải thông qua tính khí của mỗi người. Điều này thách thức chúng ta cần nhận dạng tính khí riêng của mình, không thể rập khuôn chỉ có một loại tính khí “Cơ Đốc” như nhau. Nhưng đồng thời, trong tính khí của mỗi người cũng có những yếu tố cần được thay đổi bởi Tin Lành. Câu trả lời cho chúng ta ẩn chứa trong tên gọi Chúa đặt cho các con trai của Xê-bê-đê. Tên gọi này cho thấy tính khí nóng nảy và dễ xung đột. Dù tên gọi này được Chúa Giê-xu đặt cách trìu mến, nhưng đây không phải là cái tên khiến họ tự hào.

Hiểu tính khí con người góp phần quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ cách áp dụng niềm tin Cơ Đốc trong công việc. Đa số chúng ta đều thừa nhận những trải nghiệm trong công việc, cả tốt lẫn xấu, phụ thuộc rất nhiều nơi tính khí của những đồng nghiệp. Những phẩm chất tạo nên một đồng nghiệp tràn đầy năng lượng luôn truyền cảm hứng làm việc cho người khác thường khiến cho người đó khó tính. Một người tích cực và xông xáo thường dễ bị xao lãng bởi những ý tưởng, dự án mới, lại hay có định kiến và vội vàng bày tỏ quan điểm. Tính khí của chúng ta giữ vai trò quan trọng. Việc chúng ta cảm thấy dễ dàng hay khó khăn khi làm việc với một ai đó phụ thuộc vào tính khí của chúng ta và của người cùng làm việc.

Tuy nhiên, tính khí không chỉ ảnh hưởng đến công việc. Tính khí đặc trưng của chúng ta sẽ định hình cách chúng ta đóng góp cho một tổ chức và qua đó cách chúng ta phục vụ, cống hiến cho vương quốc Đức Chúa Trời. Tính khí định hình những ưu điểm và nhược điểm của chúng ta. Ở một góc độ nào đó, tin theo Đấng Christ đồng nghĩa với việc để Ngài kiểm soát tính khí của bạn, như Chúa đã quở trách các “Con Trai Của Sấm Sét” về tham vọng muốn được ngồi bên phải và bên trái của Ngài (Mác 10:35-45). Nhưng đồng thời, Cơ Đốc Nhân cũng sai lầm khi áp đặt những đặc điểm tính khí cụ thể như một hình mẫu chung cho mọi người. Trong một số cộng đồng Cơ Đốc, những đặc tính như hướng ngoại, ôn hòa, dè dặt trong việc sử dụng quyền lực được “tôn thánh”, còn những đặc tính khác như: chi phối, điều khiển, ít khoan dung và cả tin thường bị “định tội”. Một số Cơ Đốc Nhân nhận thấy những đặc tính là ưu điểm của họ trong công việc như quyết đoán, không vội tin việc chưa kiểm chứng (tin kiểu giáo điều) và có tham vọng lại thường khiến họ có mặc cảm tội lỗi và bị xa lánh trong Hội Thánh. Khi người tin Chúa cố gắng để trở thành người khác, hay cố gắng rập khuôn theo một hình mẫu Cơ Đốc Nhân “chuẩn” trong môi trường công sở, họ có thể khiến người khác cảm thấy thiếu chân thật. Chúng ta được kêu gọi noi gương Đấng Christ (Phil 2:5) và bắt chước những lãnh đạo của mình (Hê 13:7), nghĩa là bắt chước những đức tính tốt, chứ không phải rập khuôn tính khí. Chúa Giê-xu thường chọn những người với nhiều tính khí khác nhau làm bạn và cùng làm việc với Ngài. Có rất nhiều phương cách để hỗ trợ các cá nhân và tổ chức sử dụng những người với tính khí khác nhau cách hiệu quả trong việc đưa ra quyết định, lựa chọn nghề nghiệp, nâng cao năng lực làm việc, điều hành, lãnh đạo, giải quyết xung đột và xây dựng mối liên hệ trong công việc.

Điều này cần phải được xem xét từ hai phương diện: trong tương tác với thần học về của cải và trong liên hệ với điểm chung giữa thần học về Hội Thánh và thần học về công việc. Việc duy trì mối liên hệ giữa các Cơ Đốc Nhân trong môi trường làm việc để hỗ trợ lẫn nhau nghe dường như là điều hấp dẫn và ít thực tế, nhưng thực ra là một nhiệm vụ phải thực hiện. Dù đây là mục tiêu đáng ca ngợi, nhưng chúng ta cần thừa nhận có một số người tin Chúa đặt sai thứ tự ưu tiên và khiến quan điểm của họ bị ảnh hưởng. Những lúc như vậy, trong vai trò là người tin Chúa, trách nhiệm của chúng ta là luôn sẵn sàng để gây dựng nhau trong tình thương, nhắc nhở nhau để hành động của chúng ta thật sự dựa trên những tiêu chuẩn của vương quốc Đức Chúa Trời.

TIẾN TRÌNH MÔN ĐỆ HÓA (MÁC 4:35-41; 6:45-52; 8:14-21)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Sách Mác trình bày nhiều mặt tốt của các môn đồ như việc họ đáp ứng lời mời gọi của Chúa Giê-xu (Mác 1:16-20) và thực hiện công tác Ngài giao phó (Mác 6:7-13)[1], nhưng sách Mác cũng nhắc đến sự thiếu hiểu biết, yếu đuối và ích kỷ của họ nhiều hơn các sách Tin Lành khác. Góc nhìn về các môn đồ được định hình với những đặc điểm của thể loại văn tường thuật và việc mô tả các sự kiện. Thứ nhất là việc lặp lại những câu chuyện có cùng bối cảnh chiếc tàu, cơn bão, và các lần trò chuyện khi đi ngang hồ Ga-li-lê (Mác 4:35-41; 6:45-52; 8:14-21). Tất cả đều nhấn mạnh chi tiết các môn đồ không thể hiểu thẩm quyền của Chúa Giê-xu. Sau những câu chuyện có bối cảnh chiếc tàu, bờ biển là câu chuyện về sự chữa lành người mù cách lạ thường, với hai giai
đoạn (Mác 8:22-26). Có thể câu chuyện này giữ chức năng như một phép ẩn dụ nói về sự mù lòa của các môn đồ trong hiểu biết khiếm khuyết của họ về Chúa Giêxu.[2] Tiếp đến, chúng ta có lời xưng nhận Đấng Christ của Phi-e-rơ (Mác 8:27-33).

Thế nhưng ngay sau khoảnh khắc ông bày tỏ sự hiểu biết của mình về Chúa đầy kịch tính thì ngay lập tức Phi-e-rơ lại bị Sa-tan làm cho mù lòa. Sự hiểu biết của các môn đồ về Chúa Giê-xu bị giới hạn nên sự hiểu biết của họ về thông điệp của Ngài cũng bị giới hạn. Các môn đồ cứ tiếp tục tìm kiếm quyền lực và địa vị (Mác 9:33-37; 10:13-16; và 10:35-45). Chúa Giê-xu đã nhiều lần thách thức các môn đồ những khi họ thất bại trong việc nhìn nhận đi theo Chúa đòi hỏi tinh thần hy sinh
quên mình. Bằng chứng nổi bật hơn hết là khi các môn đồ bỏ trốn lúc Chúa Giêxu bị bắt và xét xử (Mác 14:50-51). Sách Mác tường thuật sự chết của Chúa Giê-xu ngay sau sự kiện Phi-e-rơ ba lần chối Chúa (Mác 14:66-72) càng làm nổi bật sự hèn nhát của Phi-e-rơ và lòng can đảm, vâng phục của Chúa Giê-xu.

Thế nhưng Phi-e-rơ cũng như các môn đồ khác vẫn có thể lãnh đạo Hội Thánh hiệu quả. Mác 16:6-7 cho biết sau khi Chúa Giê-xu phục sinh, thiên sứ đã nói với những người phụ nữ đi báo tin cho các môn đồ rằng họ sẽ được gặp Ngài (chỉ có Phi-e-rơ được nhắc tên cụ thể). Mặc dù không được đề cập trong sách Mác, nhưng từ sách Công vụ, chúng ta được biết các môn đồ đã thay đổi rất nhiều sau khi được gặp Chúa Giê-xu. Sự kiện Chúa phục sinh đã đem đến sự thay đổi lớn.
Điều này có liên hệ gì đến việc làm của chúng ta? Trong việc làm của mỗi người, rõ ràng chúng ta là những môn đồ của Chúa Giê-xu nhưng chúng ta vẫn chưa hoàn hảo và còn phải được hoàn thiện. Sẽ có nhiều điều chúng ta cần ăn năn, cũng như những thái độ sai trật mà chúng ta cần được sửa đổi. Chúng ta cần phải nhìn nhận có thể chính mình không đúng trong cách suy nghĩ, trong những điều chúng ta tin, thậm chí là những vấn đề liên quan đến Tin Lành, giống như các
môn đồ ngày xưa. Vì vậy mỗi ngày chúng ta cần cẩn trọng suy ngẫm cách chúng ta bày tỏ quyền tể trị của Đức Chúa Trời và luôn sẵn sàng ăn năn về những sự kém thiếu của bản thân. Trong công việc, chúng ta có thể bị cám dỗ để chứng tỏ sự chính trực, khôn ngoan và tài năng của chính mình thay vì là chứng nhân cho sự công chính, khôn ngoan và trọn vẹn của Chúa Giê-xu. Thay vì chứng tỏ chính mình là tốt lành cách giả tạo, việc bày tỏ con người thật của chúng ta sẽ là một lời chứng mạnh mẽ về lòng thương xót của Chúa đối với những người vẫn còn phạm sai lầm, có bản ngã tự tôn, chú tâm về chính mình nhưng họ cũng là những công trình đang được Chúa hoàn thiện. Khi đó, thay vì kêu gọi đồng nghiệp bắt chước chúng ta, lời chứng của chúng ta là lời mời gọi họ cũng để cho Chúa Giê-xu thay đổi, hoàn thiện như cách Chúa đang làm cho chúng ta. Tất nhiên, chúng ta vẫn cần tích cực rèn tập để lớn lên trong Đấng Christ. Lòng thương xót của Chúa không phải là cớ để chúng ta cứ ở trong tội lỗi.

NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA PHONG TRÀO (MÁC 1:21-45)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Phân đoạn Mác 1:21-34 tường thuật những sự kiện diễn ra trong ngày Sa-bát, ngày dành riêng cho việc nghỉ ngơi và trong số đó có các sự kiện đã xảy ra trong nhà hội (Mác 1:21-28). Điểm nhấn quan trọng của phần này cho thấy đời sống của Chúa Giê-xu gắn kết chặt chẽ với chu kỳ làm việc, nghỉ ngơi và thờ phượng hằng tuần; sách Mác không hề phớt lờ hay phủ nhận điều này. Trong thời đại của chúng ta, chu kỳ này đã bị giảm thiểu rất nhiều; chúng ta cần tự nhắc nhở rằng chính Chúa Giê-xu đã giữ chu kỳ làm việc-nghỉ ngơi mỗi tuần. Ngoài ra, điều quan trọng không kém là Chúa Giê-xu cũng đã thi hành công tác rao giảng chân lý và chữa lành cũng trong ngày Sa-bát. Đó là lý do đã khiến Ngài gặp phải sự chống đối của người Pha-ri-si. Chúa Giê-xu cho thấy ngày Sa-bát không chỉ là ngày nghỉ ngơi khỏi mọi công việc, nhưng cũng là ngày của tình yêu và lòng thương xót.[1]

Ngoài chu kỳ hằng tuần, chúng ta còn có nhịp sống mỗi ngày. Sau ngày Sabát, Chúa Giê-xu đã thức dậy “khi trời vẫn còn tối” để cầu nguyện (Mác 1:35). Mỗi ngày, ưu tiên quan trọng nhất của Chúa Giê-xu là gắn kết với Đức Chúa Trời. Chi tiết Chúa Giê-xu cầu nguyện một mình rất quan trọng cho thấy cầu nguyện không phải là một màn trình diễn trước đám đông, nhưng là cuộc gặp gỡ cá nhân. Cầu nguyện mỗi ngày dường như là điều rất khó thực hiện đối với những người đi làm. Thiết lập giờ cầu nguyện đều đặn mỗi sáng là điều gần như không thể thực hiện được vì nhiều lý do: công việc gia đình, chổ làm xa nhà, giờ làm việc sớm, ước muốn bắt đầu làm việc sớm để nhanh chóng hoàn tất những trách nhiệm trong ngày hay đã thức khuya đêm trước để làm xong những việc còn dang dở hoặc để giải trí. Ngay cả khi chọn thời điểm khác trễ hơn trong ngày để cầu nguyện thì vẫn khó thực hiện. Không có chổ nào trong sách Mác nói đến hình phạt dành cho những người không cầu nguyện hoặc không thể cầu nguyện trước mỗi ngày cho những công tác đang chờ đợi họ. Nhưng sách Mác mô tả Chúa Giê-xu, người bận rộn, cầu nguyện mỗi ngày cho công tác và cho những người Đức Chúa Trời đặt để bên cạnh mình. Giữa những áp lực của trách nhiệm trong đời sống, giờ cầu nguyện mỗi ngày dường như là một điều xa xỉ mà chúng ta không thể có được. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã không bắt đầu ngày làm việc mà thiếu sự cầu nguyện, giống như chúng ta không thể đi làm việc mà lại không mang giày.

Dành riêng thì giờ cố định để cầu nguyện là một việc tốt, nhưng đó không phải là cách duy nhất để cầu nguyện. Chúng ta vẫn có thể cầu nguyện đang khi làm việc. Một cách rất hữu ích đó là cầu nguyện ngắn vào những thời điểm khác nhau trong ngày. Phần “Tĩnh Nguyện Hằng Ngày cho Cá Nhân và Gia Đình” (Devotions for Individuals and Families) trong quyển Sách Cầu Nguyện Chung
(Book of Common Prayer) (trang 136-143), cung cấp cho chúng ta những lời cầu nguyện ngắn vào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều và buổi tối dựa trên nhịp sinh hoạt và làm việc hằng ngày của chúng ta. Thậm chí có cả những lời cầu nguyện ngắn hơn nữa, chỉ một hoặc hai câu, có thể dùng khi chúng ta thực hiện xong một việc, chuẩn bị chuyển sang làm việc khác. Chúng ta có thể cầu nguyện trong khi mắt vẫn mở, dâng lời cảm tạ cách âm thầm hay lớn tiếng trước khi ăn, hay mang
theo một vật, một câu Kinh Thánh trong túi nhằm nhắc nhở chúng ta cầu nguyện. Có những quyển sách hướng dẫn rất hữu ích giúp chúng ta thiết lập giờ cầu nguyện hằng ngày như Finding God in the Fast Lane của Joyce Huggett[2] và The Spirit of the Disciplines của Dallas Willard.[3]

CHÚA CỦA NGÀY SA-BÁT (MÁC 2:23-3:6)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Khi phân tích Mác 1:21-34, chúng ta đã biết ngày Sa-bát nằm trong nhịp sinh hoạt hằng tuần của Chúa Giê-xu. Xung đột nảy sinh giữa Chúa Giê-xu và người Pha-ri-si không phải là việc có nên giữ ngày Sa-bát hay không mà là giữ ngày Sabát như thế nào. Với người Pha-ri-si, việc giữ ngày Sa-bát chủ yếu được định nghĩa bởi những điều luật cấm không được làm việc. Điều họ quan tâm là điều răn cấm làm việc trong ngày Sa-bát (Xuất 20:8-11; Phục 5:12-15) khi áp dụng cụ thể nghĩa là không được làm việc gì?[1] Với người Pha-ri-si, ngay cả những việc làm bình thường của các môn đồ như bứt bông lúa cũng bị xem là vi phạm điều răn này. Điều cần lưu ý họ xem hành động này là không đúng luật (Mác 2:24), mặc dù trong điều răn thứ tư của Torah hoàn toàn không có chi tiết này. Người Pha-ri-si cho rằng cách giải nghĩa luật pháp của mình là có thẩm quyền và mang tính bắt buộc, mà không hề xét đến khả năng mình có thể hiểu sai điều răn. Ngoài ra, người Phari-si cũng xem việc Chúa Giê-xu chữa bệnh trong ngày Sa-bát (Mác 3:1-6) là đáng lên án. Đây là sự kiện chính khiến người Pha-ri-si bàn mưu chống lại Chúa Giê-xu. Trái ngược lại với người Pha-ri-si, Chúa Giê-xu có quan niệm tích cực về ngày Sa-bát: là ngày được thảnh thơi không phải làm việc, là món quà Đức Chúa Trời ban cho vì lợi ích của con người. “Sa-bát được tạo nên vì loài người, chứ không phải loài người được tạo nên vì ngày Sa-bát” (Mác 2:27). Hơn thế nữa, ngày Sa-bát mở ra những cơ hội để chúng ta bày tỏ tình yêu và lòng thương xót. Quan điểm tích cực này về ngày Sa-bát được hậu thuẫn bởi các sách tiên tri. Ê-sai 58 đã liên kết ngày Sa-bát với lòng thương xót và công bằng xã hội trong công tác phục vụ Đức Chúa Trời, với đỉnh điểm là mô tả ơn phước Đức Chúa Trời dành cho những ai “xem ngày Sa-bát là ngày vui thích” (Ê-sai 58:13-14). Ê-sai 58 đặt lòng thương xót, sự công bình và ngày Sa-bát cùng nhau gợi ý ngày Sa-bát sẽ trở thành ngày thờ phượng trọn vẹn khi chúng ta bày tỏ lòng thương xót và công chính. Mục đích chính của ngày Sa-bát là để ghi nhớ sự công bình và lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong việc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi thân phận nô lệ tại Ai Cập (Phục 5:15).

Phần ký thuật đầu tiên về ngày Sa-bát (Mác 2:23-28) bắt đầu từ việc các môn đồ của Chúa Giê-xu bứt bông lúa.[2] Trong sách Ma-thi-ơ cho biết thêm chi tiết các môn đồ của Chúa Giê-xu đang đói bụng, còn sách Lu-ca thì có thêm hành động họ vò bông lúa trên tay trước khi ăn. Sách Mác chỉ đơn thuần ghi lại các môn đồ của Chúa Giê-xu ngắt bông lúa, cho thấy đây là hành động mang tính ngẫu nhiên. Có thể các môn đồ chỉ vô tình bứt bông lúa và ăn. Khi bị những người Pha-ri-si chất vấn, cách Chúa Giê-xu trả lời mới nghe có vẻ thật kỳ lạ, bởi vì Ngài nhắc lại câu chuyện nói về đền thờ, chứ không phải về ngày Sa-bát.

Các ngươi chưa từng đọc về chuyện Đa-vít đã làm khi người cùng những người đi theo lâm vào cảnh túng đói sao? Trong thời A-bia-tha làm thầy tế lễ thượng phẩm, Đa-vít đã vào nhà Đức Chúa Trời ăn bánh cung hiến và cho những người đi theo ăn nữa, dù bánh ấy chỉ có những thầy tế lễ mới được phép ăn. (Mác 2:25–26)

Các học giả đã tranh luận lời biện hộ của Chúa Giê-xu có thật sự phù hợp với những nguyên tắc phân tích và tranh luận của người Do Thái hay không và nếu có thì phù hợp như thế nào?[3] Tại đây điểm nhấn là việc xác định về khái niệm “sự thánh khiết.” Cả ngày Sa-bát và đền thờ (cùng những vật dụng bên trong) đều được Kinh Thánh xem là “thánh.”[4] Ngày Sa-bát là một thời điểm thiêng liêng; đền thờ là một nơi chốn linh thiêng. Tuy nhiên bài học về thánh khiết rút ra từ điều này vẫn có thể áp dụng cho điều kia.

Điều Chúa Giê-xu muốn nói sự thánh khiết của đền thờ không hề ngăn trở hành động thương xót và công chính. Chốn linh thiêng trên đất là nơi dành cho sự thánh khiết, nhưng không phải để tách biệt khỏi thế giới. Nhưng ngược lại đó là nơi bày tỏ sự hiện diện của Đức Chúa Trời, là nơi Ngài bảo tồn và phục hồi thế giới này. Do đó nơi được biệt riêng cho Chúa về cơ bản phải là chổ bày tỏ sự công chính và lòng thương xót. “Ngày Sa-bát [bao hàm cả đền thờ] được tạo nên vì loài người, chứ không phải loài người được tạo nên vì ngày Sa-bát” (Mác 2:27). Phần tường thuật của Ma-thi-ơ về câu chuyện này có thêm chi tiết, “Ta muốn lòng thương xót, chứ không phải sinh tế,” trích từ Ô-sê 6:6 (Ma-thi-ơ 12:7) càng làm rõ hơn ý trên. Quan điểm này cũng đã được nhắc lại trong câu chuyện thứ hai xảy ra trong ngày Sa-bát, khi Chúa Giê-xu chữa lành ngay trong nhà hội (Mác 3:1-6). Câu hỏi then chốt Chúa Giê-xu đặt ra là: “Trong ngày sa-bát được phép làm việc lành hay việc dữ, nên cứu người hay giết người?” Sự im lặng của những người Pha-ri-si trước câu hỏi này như một lời khẳng định rằng ngày Sa-bát được tôn trọng thông qua những việc lành, với việc cứu mạng người.

Thế thì điều này áp dụng như thế nào trong công việc của chúng ta? Nguyên tắc của ngày Sa-bát là chúng ta phải dành riêng một khoảng thời gian không làm việc và dùng khoảng thời gian đó để thờ phượng Chúa. Điều này không có nghĩa ngày Sa-bát là khoảng thời gian duy nhất chúng ta thờ phượng Chúa, hay công việc không thể là hành động thờ phượng. Nhưng nguyên tắc về ngày Sa-bát giúp chúng ta có thời gian để tập trung hướng đến Chúa theo một cách khác hơn những ngày làm việc khác trong tuần cũng như giúp chúng ta vui hưởng ơn phước của Ngài cách đặc biệt. Điều không kém quan trọng đó là nguyên tắc về ngày Sa-bát giúp chúng ta có điều kiện để bày tỏ lòng thờ phượng Chúa qua những việc làm bày tỏ tình yêu, lòng thương xót và sự quan tâm dành cho người xung quanh. Sự thờ phượng vào ngày Sa-bát sẽ giúp công việc chúng ta làm trong tuần thêm ý nghĩa. Bộ giải kinh Thần Học Công Việc nhìn nhận không có một quan điểm (thống nhất) của Cơ Đốc Giáo về ngày Sa-bát, nên trong tập giải kinh sách Lu-ca đã khai triển một góc nhìn khác về đề tài này với tiêu đề “Ngày Sa-bát và Công việc”.

NHỮNG ẨN DỤ VỀ CÔNG VIỆC (MÁC 4:26-29 VÀ 13:32-37)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Sách Mác ghi lại hai ẩn dụ đặc biệt không có trong các sách Tin Lành khác. Cả hai ẩn dụ này đều rất ngắn và liên quan đến công việc. Ẩn dụ thứ nhất so sánh vương quốc Đức Chúa Trời với một hạt giống đang lớn lên trong Mác 4:26-29. Ẩn dụ này có những nét tương đồng với một ẩn dụ khác quen thuộc hơn, ngay sau đó là ẩn dụ về hạt cải (c. 30-34), và có những chi tiết giống với ẩn dụ về người gieo giống trong Mác 4:1-8. Mặc dù ẩn dụ này đặt trong bối cảnh nghề nông, nhưng vai trò của người nông dân bị tối giản cách có chủ ý: “người ấy chẳng biết thể nào” hạt giống mọc lên (Mác 4:27). Điều được nhấn mạnh trong ẩn dụ này là Đức Chúa Trời mở rộng vương quốc của Ngài bởi năng quyền không sao giải thích được. Tuy nhiên, người nông dân vẫn phải “thức khuya dậy sớm” để chăm sóc cây (Mác 4:26) và cầm lưỡi hái để thu hoạch (Mác 4:28). Chúa sẽ ban phép lạ cho những ai làm tốt công việc được giao phó.

Ẩn dụ thứ hai chỉ có trong sách Tin Lành Mác được ghi lại trong 13:32-37. Ẩn dụ này minh họa thái độ cần có của các môn đồ khi chờ đợi Chúa Giê-xu tái lâm. Điểm thú vị của ẩn dụ này được trình bày trong lời phán của Chúa Giê-xu: “cũng như một người kia sắp lên đường đi xa, khi rời nhà, giao quyền cho các đầy tớ, mỗi người một việc, và dặn người gác cửa phải tỉnh thức” (Mác 13:34) mô tả hình ảnh người chủ đi xa, và giao công việc cho mỗi đầy tớ của mình. Khác với cách suy nghĩ của nhiều người, vương quốc của Đức Chúa Trời không giống như một người chủ đi đến một nơi xa và hứa sẽ gọi (đem) các đầy tớ đến ở với người chủ tại nơi xa đó. Không, người chủ sẽ trở về, vì vậy người chủ giao cho những người đầy tớ trách nhiệm trông nom và đầu tư làm lợi cho cơ ngơi của mình trong lúc họ chờ đợi ngày ông chủ trở về.

CHÚA GIÊ-XU, NGƯỜI THỢ (MÁC 6:1-6)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Sự kiện xảy ra tại quê nhà của Chúa Giê-xu cho chúng ta một ít thông tin hiếm hoi về công việc Chúa Giê-xu đã làm trước khi Ngài đi rao giảng đây đó. Bối cảnh của sự kiện này là những bạn hữu và người quen của Chúa Giê-xu không tin rằng một cậu bé thân quen tại địa phương lại trở thành một người thầy và một tiên tri vĩ đại. Họ phàn nàn rằng: “Làm sao tay ông ta có thể làm được nhiều việc quyền năng như thế! Chẳng phải ông nầy là người thợ mộc, con trai Ma-ri, anh của Giacơ, Giô-sê, Giu-đe, và Si-môn đó sao? Các em gái ông chẳng phải đang ở đây với chúng ta sao?” (Mác 6:2-3). Đây là phân đoạn duy nhất trong Kinh Thánh trực tiếp nhắc đến công việc của Chúa Giê-xu. Trong Ma-thi-ơ 13:55, Chúa Giê-xu được gọi là “con trai bác thợ mộc”; còn Lu-ca và Giăng đều không nhắc gì đến công việc của Ngài. Trong tiếng Hy Lạp, từ này (tekton) có thể chỉ về một người thợ xây dựng hay thợ thủ công trong bất cứ ngành nghề nào,[1] nhưng thường trong xứ Pa-lét-tin nó chỉ có thể là thợ mộc hoặc thợ gốm. Từ này được dịch sang tiếng Anh là “thợ mộc” có thể vì lúc dịch bản Kinh Thánh đầu tiên sang tiếng Anh, gỗ là nguyên liệu xây dựng phổ biến ở Luân Đôn.

Cho dù như thế nào, Chúa Giê-xu kể rất nhiều ẩn dụ có bối cảnh công trường, công việc xây dựng. Những ẩn dụ này có phản ánh kinh nghiệm của chính Chúa Giê-xu không? Có phải Ngài đã từng xây hàng rào, đào hầm ép rượu hay xây một tòa tháp trong vườn nho và chứng kiến những xung đột giữa chủ đất và những người làm thuê (Mác 12:1-12)? Có phải người ta đã từng mướn Chúa Giê-xu xây một tòa tháp nhưng chỉ mới xây được một nửa thì đã hết tiền trả công và không trả phần còn lại (Lu 14:28-30)? Có phải Ngài nhớ cha mình (Giô-sép) từng dạy cách đào sâu đến đá để xây nền cho căn nhà có thể đứng vững trước mưa bão (Ma-thi-ơ 7:24-27)? Có phải Ngài từng thuê thợ phụ và đối diện với những lời than trách về chuyện tiền công (Ma-thi-ơ 20:1-16)? Có phải Ngài từng làm công cho một tay quản gia muốn Ngài nhúng tay vào kế hoạch lừa gạt ông chủ của hắn (Lu 16:1-16)?

Tóm lại, khi Chúa Giê-xu rao giảng bằng cách kể các ẩn dụ có bao nhiêu phầnđược tích lũy từ chính kinh nghiệm làm việc của Ngài là một người thợ trong bối cảnh kinh tế-xã hội ở thế kỷ thứ nhất? Chúng ta không có câu trả lời chính xác, nhưng gắn kết những kinh nghiệm của Chúa Giê-xu trong vai trò người thợ có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn những ẩn dụ của Ngài.

Của Cải (Mác 10:17-22)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Một trong các phân đoạn của sách Mác đề cập trực tiếp đến phương diện kinh tế-tài chính là câu chuyện một thanh niên giàu có đến gặp Chúa Giê-xu và hỏi: “Tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” Câu trả lời của Chúa Giêxu trong Mác 10:18 liệt kê sáu mạng lệnh trong số Mười Điều Răn liên quan trực tiếp đến khía cạnh xã hội. Điểm thú vị ở đây là điều răn “không được tham muốn” (Xuất 20:17; Phục 5:21) lại được trình bày với định nghĩa giao dịch-thương mại là “đừng lừa đảo.” Người thanh niên giàu có này xác nhận đã “giữ mọi điều đó từ thuở niên thiếu” (Mác 10:20). Chúa Giê-xu chỉ ra điều anh ta còn thiếu là của cải trên thiên đàng, là điều chỉ nhận được bằng cách trao ban của cải trên đất này và đi theo Ngài, một người Ga-li-lê lang thang đây đó. Đây là trở ngại mà người thanh niên này không thể vượt qua. Dường như anh ta yêu thích sự tiện nghi và an ổn mà số của cải rất lớn đem lại. Mác 10:22 nhấn mạnh đến khía cạnh cảm xúc trong tình huống này khi cho biết “nghe vậy, anh sa sầm nét mặt, rồi buồn bã bỏ đi.” Chàng thanh niên này đã trăn trở trước sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu, cho thấy trong anh có sự cởi mở với chân lý, nhưng anh ta không thể đeo đuổi đến cùng. Luyến tiếc, không thể tách rời của cải và địa vị đã chiến thắng thái độ sẵn sàng làm theo những lời dạy của Chúa Giê-xu.

Áp dụng điều này vào công việc của chúng ta ngày nay đòi hỏi sự nhạy bén và thành thật về những thiên hướng, tiêu chuẩn, giá trị của chúng ta; vì công việc cũng có thể ngăn cản chúng ta đi theo Chúa Giê-xu. Nếu chúng ta có địa vị như chàng trai trẻ này, thì công việc có thể trở nên quan trọng hơn việc phục vụ người khác, làm việc lành hay thậm chí là dành thời gian cho gia đình, xã hội và đời sống thuộc linh, thậm chí cũng có thể ngăn trở chúng ta đáp lại lời kêu gọi của Chúa. Của cải và đặc quyền có thể khiến chúng ta trở nên kiêu ngạo hay vô cảm với những người xung quanh. Tất nhiên, nan đề này không chỉ xảy đến cho những người có địa vị và giàu có. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-xu với chàng trai trẻ này chứng tỏ sẽ rất khó để tự thúc đẩy bản thân thay đổi khi đang ở trên đỉnh cao của sự thành đạt. Trước khi chúng ta những người không có địa vị hay tiền bạc gì đáng kể cho rằng mình chắc sẽ không rơi vào trường hợp này, hãy tự hỏi bản thân, dựa theo tiêu chuẩn của đời, phải chăng chúng ta đã trở nên tự mãn bởi sự giàu có cùng với chút địa vị (tương đối) của mình.

Trước khi chúng ta khép lại câu chuyện này, có một khía cạnh quan trọng khác cần được nhắc đến. Đó là việc “Chúa Giê-xu trìu mến nhìn anh” (Mác 10:21). Mục đích của Chúa Giê-xu không phải để làm chàng trai trẻ này cảm thấy xấu hổ cũng không phải để dọa nạt, mà là yêu thương anh. Ngài kêu gọi anh từ bỏ của cải mình có là vì lợi ích của bản thân, đó là lý do Ngài nói: “Ngươi sẽ có kho báu ở trên trời; rồi hãy đến theo Ta.” Chính chúng ta sẽ là người bị thiệt thòi khi chúng ta để của cải hay công việc khiến chúng ta xa cách người khác và cắt đứt mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Giải pháp ở đây không phải là nỗ lực để trở nên tốt, nhưng là tiếp nhận Chúa; nghĩa là đi theo Đấng Christ. Nếu làm vậy, chúng ta sẽ học biết có thể hoàn toàn phó thác những nhu cầu của cuộc sống cho Đức Chúa Trời, và chúng ta không cần bám víu của cải và địa vị mới có được sự đảm bảo đó.[1]

Địa Vị (Mác 10:13-16, 22)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Khía cạnh đặc trưng của sách Mác trong cách tường thuật là sắp xếp các phân đoạn nói về việc các con trẻ được đem đến với Chúa Giê-xu ngay cạnh lời tuyên bố vương quốc Đức Chúa Trời thuộc về những ai giống như các con trẻ ấy (Mác 10:13-16). Nương dựa vào Chúa, không tìm kiếm sự an ổn hay dựa dẫm vào của cải thường được xem là ý tưởng chung gắn kết các phân đoạn này. Nhưng thật ra, sự liên kết ở đây là vấn đề địa vị. Trong xã hội ở vùng Địa Trung Hải thời xưa, trẻ em hoàn toàn không có địa vị hoặc nếu có thì cũng bị xem là thấp kém.[1] Chúng không đạt đến bất cứ tiêu chuẩn nào mà con người thường dùng để đánh giá. Quan trọng hơn hết, chúng chẳng có tài sản gì. Ngược lại, chàng trai trẻ lại có quá nhiều thứ là biểu tượng cho địa vị (Mác 10:22) và anh ta sở hữu rất nhiều của cải. Trong phần tường thuật Lu-ca 18:18, anh ta được gọi là một vị quan. Nô lệ cho địa vị và của cải có lẽ đã khiến chàng trai trẻ giàu có bỏ lỡ cơ hội được vào vương quốc Đức Chúa Trời.

Trong công sở ngày nay, địa vị và của cải có thể đi đôi với nhau. Với những ai nhờ công việc, có thêm của cải lẫn địa vị, thì đây là một lời cảnh báo kép. Ngay cả khi chúng ta có thể quản lý tốt cách sử dụng của cải, thì việc tránh bị sụp bẫy nô lệ cho địa vị khó hơn nhiều. Gần đây, một nhóm tỉ phú đã nhận được sự quan tâm rất lớn của công chúng khi họ hứa sẽ cho đi ít nhất là phân nửa tài sản của mình.[2] Lòng rộng rãi của họ thật đáng kinh ngạc, và tất nhiên chúng tôi không có ý chỉ trích bất cứ ai trong số đó. Tuy nhiên, chúng tôi tự hỏi, nếu họ đã có thể cho đi số tài sản nhiều đến thế, thì tại sao họ không cho đi nhiều hơn một nửa tài sản của mình? Nửa tỷ Mỹ kim vẫn là quá dư dả để có thể hưởng thụ một đời sống thoải mái. Phải chăng việc muốn giữ lại địa vị là một tỷ phú (hay ít nhất là “nửa” tỷ phú) đã ngăn trở họ cho đi toàn bộ tài sản vì những mục đích mà họ biết rõ là quan trọng? Đối với những người làm công bình thường thì điều này có gì khác không? Phải chăng việc duy trì địa vị đã ngăn cản chúng ta dành nhiều thời gian, tài năng và của cải để đầu tư vào những điều thật sự quan trọng?

Câu hỏi này vẫn đặt ra cho những ai có địa vị nhưng không có của cải. Học giả, chính trị gia, mục sư, nghệ sĩ và rất nhiều người khác có thể có địa vị cao trọng nhờ công việc của mình nhưng không hẳn là họ sẽ kiếm được nhiều tiền, ví dụ: địa vị có thể đến từ việc được làm ở một trường đại học nào đó hay được một nhóm người coi trọng, tán tụng. Liệu địa vị có ngăn trở chúng ta dám trả giá để bảo vệ quan điểm không được số đông ủng hộ hay ra đi để làm một công việc có kết quả hơn?

Chúng ta có chấp nhận để địa vị trong công việc của mình bị ảnh hưởng vì các mục đích như phục vụ người khác, chống lại sự bất công, gìn giữ phẩm chất đạo đức, hay tra xét chính mình theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời? Chúng ta chấp nhận để địa vị của mình bị ảnh hưởng đến mức nào? Chỉ một chút thôi? Chúa Giêxu đã có tất cả những địa vị cao trọng và còn hơn thế nữa. Có lẽ đó là lý do Ngài cầu nguyện mỗi ngày với Đức Chúa Cha, để gạt địa vị sang một bên và thường xuyên tiếp xúc với những người tai tiếng.